Thiếu nữ Việt Nam

Thiếu nữ Việt Nam
quá dễ thương

Thursday, November 27, 2025

Gánh Mẹ - Lê Thu Uyên

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Gánh Mẹ/Ca sĩ Lê Thu Uyên

Sunday, November 23, 2025

Cây Chĩa Ba của Thần Hải Vương Tinh - Nguyễn Văn Tới

 Cây Chĩa Ba của Thần Hải Vương Tinh

Nguyễn Văn Tới - Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018, giải vinh danh Tác Phẩm 2019 và giải vinh danh Tác giả, Tác phẩm 2021. Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển, ông định cư tại Mỹ từ 1990, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Bài này tác giả ghi lại hành trình mười năm săn đuổi và tiêu diệt Osama Bin Laden, viết trong tháng 9 tưởng niệm với thông điệp: công lý có thể đến muộn, nhưng không bao giờ vắng.

*

Biến cố đau thương 9-11 đã xảy ra cách đây 24 năm, vẫn còn là một bi kịch đau thương trong lòng người Mỹ. Bộ Quốc Phòng Mỹ quyết định bằng mọi giá, phải bắt cho được Osama Bin Laden, OBL, kẻ chủ mưu khủng bố, bắt hắn phải đền tội để làm gương cho những tên khủng bố khác. Chiến dịch Neptune Spear, Cây Chĩa Ba của thần Hải Vương Tinh, được lên kế hoạch để săn đuổi và sau 10 năm âm thầm nhưng quyết liệt, đã bắt và giết chết tên trùm này tại Pakistan.

Trong thần thoại La Mã, Neptune là vị thần của biển Cả, hay còn gọi là thần Poseidon. Chiến dịch được đặt tên như vậy vì cây chĩa Ba là huy hiệu (insignia) của một nhóm lực lượng đặc nhiệm được gọi là Seal Team Six. Cây chĩa ba mang ý nghĩa cú đánh thần tốc, sắc bén, và chính xác.

OBL đã kịp trốn vào vùng núi cao hiểm trở Tora Bora phía Đông Afghanistan, giáp ranh với Pakistan, nơi không mấy người dám đặt chân đến. Đây là vùng thánh địa của tổ chức khủng bố Al-Qaeda do hắn cầm đầu. Ngày 12 tháng 12, 2001, không quân Mỹ mở cuộc không kích, ném bom dữ dội vào những căn hầm bí mật nơi OBL ẩn núp; thoát chết nhưng không chịu nổi, hắn đã âm thầm trốn ra khỏi vùng này và biến mất không còn tăm tích.
                                                                           *

Thành phố nghỉ mát Abbottabad, phía Bắc Pakistan, nơi tọa lạc căn cứ không quân chiến lược quan trọng Kalabagh Airbase, nó nằm gần đường biên giới Kashmir giữa Ấn Độ và Pakistan là nơi vẫn còn xảy ra tranh chấp đẫm máu giữa hai bên. Trên đỉnh đồi cao, sừng sững nhìn xuống thành phố là trường võ bị quốc gia PMA, Pakistan Military Academy, nơi đào tạo sĩ quan ưu tú của đất nước.

Năm 2005. Ở cuối một con đường đất, khu phố Bilal Town, cách trường Võ Bị khoảng 1.3 km, địa chỉ Warizistan Haveli, Bilal Town, Abbottabad, Pakistan, một ngôi nhà lớn 3 tầng tọa lạc trên mảnh đất hình tam giác diện tích 3,500 m2, được bao quanh bằng tường đá cao 5 mét, bên trên giăng giây thép gai, có 2 cổng ra vào được gắn hệ thống an ninh, coi rất bề thế, nhưng lại có rất ít cửa sổ. Tầng cao nhất lại được xây thêm một bức tường cao 2 mét, khiến tòa nhà giống như một pháo đài. Điểm đặc biệt là ngôi nhà không có điện thoại và Internet, không xài dịch vụ đổ rác như mọi nhà khác trong khu phố. Người trong nhà tự làm vườn, trồng rau, nuôi bò, cừu trong chuồng mà không cần ra chợ.

Trên tầng cao nhất của ngôi nhà, một người đàn ông cao lớn, lưng hơi còng như mang một gánh nặng vô hình, râu tóc bạc phơ, đứng bên cánh cửa sổ duy nhất, đưa tay vén tấm rèm, nhìn xuống con đường chạy dài theo con hẻm bên hông nhà. Mắt ông đăm chiêu, gương mặt khắc khổ như chưa bao giờ biết cười. Ông ta có thói quen đứng đó hằng giờ mỗi ngày, đôi mắt mờ đục âm thầm quan sát, đôi khi nhìn chăm chăm xuống phía dưới đường mà như không thấy gì.

Người dân ở đây, không ai quen biết hoặc đã từng gặp mặt người chủ căn nhà, họ chỉ biết nhiều năm trước, tòa nhà được mua lại và sửa chữa rất nhiều, rồi thấy có người ra vô, thỉnh thoảng nghe tiếng con nít cười đùa trong sân, tuyệt nhiên không thấy chủ nhà ra giao tiếp với hàng xóm. Người dân ở đây cũng quen dần với thái độ của người hàng xóm không thân thiện này.

Một buổi chiều mùa đông giá rét cuối năm 2010, Abu Ahmed Al-Kuwaiti nhanh nhẹn dắt chiếc xe gắn máy ra khỏi cổng ngôi biệt thự. Theo thói quen, hắn nhìn trước trông sau coi có ai để ý mình không, rồi mới đạp máy xe và phóng đi. Đầu quấn khăn turban che kín gần hết khuôn mặt, hắn chạy ngoằn nguèo một lúc rồi hướng về phía chợ, ghé vào một cửa tiệm, ngồi nhấm nháp ly cà phê, mắt hướng ra phía cửa, vẻ sốt ruột như đang chờ đợi ai.

Abu Ahmed là người tôn thờ và phục tùng OBL như một tín đồ sùng bái đấng tiên tri, một vị thánh thần. Hắn không bao giờ dám nhìn thẳng vào mặt thủ lĩnh, chỉ cúi đầu vâng dạ, đặt tay lên ngực trái thì thầm “Ngài là tiếng gọi của Allah trong thời đại mù lòa”. Hắn vâng theo mọi chỉ thị và lời sai khiến, không hề thắc mắc. OBL yên tâm tuyệt đối và tin vào lòng trung thành của Abu.

Bỗng có tiếng gọi to:
Phải Abu Ahmed đó không?

Abu quay lại. Thì ra thằng bạn ngày xưa cùng chung trong cuộc thánh chiến Mujihadeen. Cả hai đứng dậy, bước đến, ôm nhau và hôn trên má theo phong tục địa phương.

Tay bắt mặt mừng, cả hai chuyện trò rôm rả, không biết có một người khách ngồi trong góc quán đang lắng nghe, đằng sau một tờ báo che kín mặt. Khi cả hai rời đi, người khách lạ cũng âm thầm theo sau.                                                                                   

*

Năm 2006, trại giam Guantanamo, Cuba. Sau khi bị hỏi cung, trở về phòng, Khalid Sheikh, còn gọi là Mohammed (KSM) Sheikh, một đồng phạm quan trọng thứ 2 trong biến cố 9-11, hắn chối không biết OBL đang trốn ở đâu. Nhưng khi về phòng, hắn bí mật thông cung, dặn dò các đồng phạm khác: không được khai hay nhắc nhở đến cái tên Abu Ahmed. Hắn và đồng bọn không ngờ rằng trong phòng giam đã được gắn một hệ thống cameras kỹ thuật cao, theo dõi và nghe không sót một lời nói hoặc cử chỉ nào của phạm nhân.
                                                                                       *
Đô Đốc William McRaven được triệu hồi cấp tốc về ban tham mưu ở Ngũ Giác Đài (Pentagon). Ngày 11 tháng 3, 2011, Robert O’Neil, trưởng toán Navy Seal Team 6, đang nghỉ hè cùng gia đình sau một chiến dịch bên Trung Đông, anh nhận được cú điện thoại khẩn cấp từ Đô Đốc McCraven cho hay phải tập họp toàn đơn vị, chuẩn bị đầy đủ hành trang, dụng cụ để lên đường. Địa điểm và mục tiêu cho biết sau.

Robert không xa lạ gì với những công tác đột ngột và khẩn cấp như vậy, anh vốn là một sĩ quan đặc nhiệm, chuyên nghiệp, vào sinh ra tử, anh không nề hà hiểm nguy. Nhưng điều khiến anh trăn trở nhất là làm cách nào nói cho vợ con hiểu khi anh ôm hôn và từ giã vợ con, trở về căn cứ gặp mặt đồng đội để chuẩn bị lên đường.

Chuyến công tác trước, một đồng đội và cũng là bạn thân của anh, khi từ biệt vợ con ra đi, đã mãi mãi không trở về.  Khi Robert qua thăm và báo hung tin cho gia đình người góa phụ, hai đứa con thơ của người bạn hỏi anh “ba cháu bao giờ về?”. Câu hỏi như mũi dao xoáy thẳng vào tim, khiến anh phải quay đi ngăn giòng nước mắt ướt đẵm trên mi. Anh nghẹn ngào ôm hai đứa trẻ vào lòng thì thầm:

Ba các cháu đã về với tổ quốc, với quê cha đất tổ.

Anh nhớ mãi và bị ám ảnh bởi ánh mắt ngơ ngác của hai đứa trẻ và âm thanh cái đĩa rơi vỡ khô khốc trên nền gạch khi vợ của bạn mình xuất hiện ở ngưỡng căn bếp; một sự lặng im của nỗi đau chất ngất, đôi mắt lặng đi kinh hoàng nhìn anh, không nói nổi một lời. Đời anh, sống chết kề cận, chứng kiến quá nhiều điều kinh khủng, nhưng cái khoảnh khắc đó đã để lại trong anh một ký ức đau đớn không bao giờ quên.
                                                                    *
Một chiếc vận tải cơ C17 Globemaster đang chờ ngoài phi đạo. Phi hành đoàn đã chất xong mấy “containers” và hàng hóa được bao bọc kỹ càng, không ai biết bên trong là những gì. Ba người lính không quân đang kiểm soát lại tất cả các “tie-downs”, bảo đảm hàng hóa được thắt dây chặt chẽ, người chuẩn úy trẻ tuổi, “the load master”, đi một vòng kiểm soát lại lần cuối.  Bên trong cockpit, 2 viên phi công đang lướt qua từng chi tiết trong cuốn “check list” trước khi cất cánh.

Một chiếc xe vận tải chạy đến phía sau khoang chở hàng, 23 người lính đặc nhiệm, quân phục gọn gàng, nhảy xuống; từng người một bước lên và dạt ra 2 bên hàng ghế dọc theo sát thân phi cơ.

Ngay lập tức, Đô Đốc McRaven đích thân ra tiễn tận bên trong khoang cargo, bắt tay từng người và căn dặn:

Trong chiến dịch tối mật này, nếu thất bại, bị bao vây, các bạn phải tự mình chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, thoát ra ngoài tìm đường về căn cứ. Sẽ không có bất kỳ sự giúp đỡ nào từ quân đội Mỹ và cũng sẽ không có việc trao đổi con tin. Các bạn chỉ có một con đường, một lựa chọn duy nhất là CHIẾN THẮNG.

Mọi người im lặng nhận chỉ thị với vẻ mặt nghiêm nghị và quyết tâm cùng thưa:

Thưa Đô Đốc, rõ và sẵn sàng.

Khi viên Phi công thông báo “Welcome to BAF, Afghanistan”, mọi người mới biết mình chuẩn bị đáp xuống phi trường Bagram Air Force base, căn cứ quân sự lớn nhất của quân đội Mỹ, phía Đông Bắc Afghanistan.

Ngày hôm sau, cả toán được chuyên chở đến một khu trại nhỏ bé nằm gần BAF, Camp Alpha, thành phố Jalalabad, khá xa tỉnh bang Parwan Province. Ra đón Seal Team 6 là hai nhân viên mặc thường phục của CIA (Central Intelligence Agency) và JSOC (Joint Special Operations Command). Họ là những nhân viên ưu tú, chuyên lên kế hoạch và điều phối huấn luyện trong những chiến dịch thật đặc biệt. Tất cả đi bộ tới một tòa nhà lớn như một tòa nhà thực thụ và mới vừa được cất lên bằng ván ép, mùi gỗ mới vẫn còn phảng phất đâu đây, kích thước giống y như tòa nhà của OBL (a full-scale mock-up building). Người có vẻ là chỉ huy lên tiếng:

Tự Do của đất nước chúng ta đã bị tấn công ngày 11 tháng 9, 2001 bởi những kẻ dấu mặt hèn nhát, nhiệm vụ chúng ta là phải bảo vệ Tự Do cho đến cùng bằng chiến dịch Neptune Spear. Nhiệm vụ của các bạn là săn lùng OBL, nếu không bắt sống được thì giết chết. Chi tiết sẽ cho biết sau. Có 3 bài tập các bạn phải nhuần nhuyễn, ngay cả trong giấc ngủ, cũng phải thuộc nằm lòng. 1. Di chuyển bằng trực thăng đặc biệt để xâm nhập vào địa điểm. 2. “Dọn dẹp phòng” và xác định nhân thân của mục tiêu HVT (high valued target). 3. Thoát hiểm và biến mất.

Ngừng lại một chút cho ai nấy có đủ thời gian thẩm thấu 3 điều cần nhớ, ông tiếp tục:

Bắt đầu từ hôm nay, không ai được ra khỏi doanh trại, không tiếp xúc bất cứ ai, không gọi điện thoại về nhà, tắt hết cell phones, tuyệt đối giữ kín thông tin cho đến khi chiến dịch thành công. Điều cần làm bây giờ là “kế hoạch, kế hoạch, kế hoạch và thực tập, thực tập, thực tập” (plan, plan, plan and rehearsal, rehearsal, rehearsal). 12 giờ một ngày. Rõ chưa?

Thưa rõ.
Các bạn có 1 giờ chuẩn bị. Có câu hỏi gì không? Nếu không. Tan hàng.
Thưa rõ.
3

Những ngày đầu năm 2011, những chiếc MQ1-C Drones, máy bay không người lái, không mang theo hỏa tiễn laser, đều đặn cất cánh hằng ngày từ căn cứ BAF. Tất cả các chuyến bay đều được mã hóa và được lập trình bay tự động theo một đường bay và độ cao nhất định, nhắm hướng Pakistan, đi đi, về về không nghỉ một ngày nào. Từ trên cao những không ảnh được chuyển về bộ chỉ huy CENTCOM, đến một tòa nhà của CIA. Các nhân viên phân tích, dựa vào ánh nắng mặt trời chiếu nghiêng và chiều cao ngoại lệ của một bóng người trên tầng 3 tòa nhà, hằng ngày vào giờ nhất định, cái bóng lặng lẽ vén màn nhìn ra ngoài. Đối với một người Ả Rập, OBL có một chiều cao vượt trôi người thường. Những không ảnh này, bao gồm cả hình ảnh từ sân trước đến sân sau, hình ảnh trẻ em chơi đùa trong sân, những người ra vô tòa nhà, cho đến thói quen của họ, tất cả được gởi về đều đặn trong vòng hơn 4 tháng.


Một buổi sáng tháng 4, 2011. Khu phố Waziristan Haveli. Cả xóm rủ nhau đem trẻ em đi chích ngừa Thủy Đậu. Một phái đoàn y tế trên thành phố xuống chích ngừa cho trẻ em theo định kỳ, không tốn tiền. Các bà mẹ dẫn đám trẻ nhỏ, lũ lượt lên bệnh xá, xếp hàng chờ tới phiên. Trước khi chích, vị bác sĩ nhìn vào hồ sơ của từng đứa trẻ và kiểm tra tên, tuổi, và địa chỉ từng nhà. Căn nhà “pháo đài” hiện lên trong một mẫu đơn chích ngừa. Khi chích ngừa đứa trẻ, vị bác sĩ cẩn thận lấy mẫu DNA của đứa bé, bỏ vào trong một ống nghiệm nhỏ và niêm phong rất cẩn thận.
                                                                                    
*

Ngũ Giác Đài. Ngày 28 tháng 4, 2011 Một cuộc họp của ban An Ninh quốc gia, National Security Group. Đô Dốc McRaven trình bày chi tiết kế hoạch. Chủ tịch ủy ban chấp thuận chiến dịch Neptune Spear, đóng dấu tuyệt mật và gởi lên Tổng Thống.
                                                                                    
*

Căn cứ Jalalabad thuộc BAF, Afghanistan. Ngày 1 tháng 5, 2011. Lúc 00:30 sáng. Hai chiếc trực thăng Sikorsky cất cánh rời khỏi phi đạo trong bóng đêm, đèn phi hành được tắt hết. Chuyến bay 162 miles dự trù để đến được mục tiêu.

Trực thăng Sikorsky là phiên bản cải tiến của trực thăng Black Hawk với thân máy bay được bắn ri-vê bằng phẳng với vỏ máy bay, được phủ lên một loại sơn đặc biệt RAM (Raw Absorbing Material) thẩm thấu sóng radar. Nếu xuất hiện trên màn ảnh radar của địch thì kích thước chỉ bằng con chim sẽ không gây chú ý của kẻ thù. Ngoài 4 cánh quạt chính, 4 cánh quạt sau đuôi được thêm vào cánh thứ 5 để triệt tiêu tiếng động, giúp máy bay giảm tiếng ồn khi phi hành. Vì những tính năng này, trực thăng có thể bay rất thấp, men theo khe núi, không gây ồn ào, và tránh được radar.

Toán đặc nhiệm được trang bị đầy đủ dụng cụ cần thiết dành cho chiến dịch như nón chống đạn gắn kính hồng ngoại tuyến và máy liên lạc giảm âm thanh tối tân nhất, có thể “text” với nhau mà không cần nói chuyện; tất cả đều mang tiểu liên HK 416, Hecker & Koch, cỡ đạn 5.56 mm, có thể bắn 850 viên đạn trong 1 phút với ống nhắm laser và súng ngắn cực nhẹ.

Hai chiếc Sikorsky bay trong bóng đêm vào không phận Pakistan, bay ngoằn ngoèo quanh co giữa các khe núi, chỉ dựa trên kính hồng ngoại tuyến và hệ thống TCAS (Traffic Collision & Avoidance System) để tránh đụng vào vách núi. Viên phi công rất nhà nghề, dày dạn kinh nghiệm, bay thật êm đến địa điểm mà dàn radar của Pakistan không hề hay biết.

Tiểu liên HK 416 được trang bị cho đội đặc nhiệm.

5

Nón bảo vệ Helmet Ops Core FAST (Future Assault Shell Technology).

Nặng 1.47 lbs (667 gr) làm bằng chất liệu ultra high molecular weight polyethylene fibers. Được gắn communication Gears, hệ thống liên lạc. 

Cùng một lúc, tại phòng theo dõi tình hình ở tòa Bạch Ốc. TT Obama, ủy ban An Ninh, Giám Đốc CIA và nhiều nhân vật liên quan đến chiến dịch, tất cả ngồi quanh cái sofa thật rộng, mắt chăm chú nhìn lên màn hình khổng lồ ở giữa phòng, theo dõi từng đường bay, từng cử động, bước đi của toán biệt kích, Real-Time Action, đang xảy ra bên kia quả địa cầu. Căn phòng lặng im, có phần ngột ngạt, chỉ thỉnh thoảng nghe vài tiếng động của ly tách trên bàn và bước chân đi lại thật nhẹ nhàng.
                                                                                 
*

00:30 giờ Pakistan, theo kế hoạch, chiếc trực thăng thứ nhất sẽ đổ bộ biệt kích xuống mái nhà của tầng 3, bắt hoặc giết OBL xong, sẽ đánh từ trên xuống. Chiếc thứ hai sẽ đáp xuống sân nhà để biệt kích đánh từ dưới lên. Không may, thời tiết ngày đó quá nóng, không khí loảng, cánh quạt tạo ra luồng khí xoáy (vortex) lực nâng bị giảm mạnh, chiếc trực thăng rơi trên bức tường, gãy đôi, phần trước bên ngoài sân, phần đuôi nằm vắt lên tường bên trong sân. Tất cả toán biệt kích và phi công không ai bị thương, họ phải chuyển qua phương án B, đánh từ bên ngoài cổng vô và từ dưới lên.

00:32 giờ Pakistan. Dùng thuốc nổ, họ phá cánh cổng gỗ nặng nề, tràn thật nhanh vào trong sân và đánh thốc lên trên. Chiếc trực thăng thứ hai đáp xuống an toàn. Hai toán chia ra làm 2 ngã đồng loạt tiến về phía trước, toán thứ nhất phá cánh cửa chính tòa nhà. Toán thứ hai đi vào bằng cánh cửa nhà để xe. Vừa thấy hai bóng người mang súng xuất hiện, một loạt đạn vang lên, Abu và người em trai gục xuống. Họ tiếp tục lên tầng 2, một bóng người khác lấp ló sau tường, người thông dịch viên kêu lên bằng tiếng Ả Rập “lại đây, lại đây”. Tưởng cùng phe, bóng đen ló đầu và bước ra, một viên đạn kết liễu mạng sống Khalid, đứa con trai của OBL.

Khi lên tầng 3, thấy nhiều bóng người đằng sau tấm màn, một bóng người cao lớn đứng cách người lính biệt kích chừng 1 mét, bóng đen đó nhoài người với lấy cây súng đầu giường, cùng 1 lúc, một cái bóng khác lao về phía người lính. Hai phát súng hãm thanh vang lên rất nhỏ trong căn phòng tối, hai thây người đổ nghiêng qua một phía. Một trong mấy bà vợ và OBL nằm sõng soài trên vũng máu. Cái bóng cao lớn đồng thời ngã dạt sang một bên.

Tất cả chỉ diễn ra trong vòng 19 phút tính từ lúc đáp xuống cho đến lúc bay đi; tiếng súng im bặt và mọi vật cần phải dọn dẹp và đem đi đã được đóng gói cẩn thận. Hàng xóm đổ nhào ra đường, chạy về phía tòa nhà, bàn tán xôn xao, không biết chuyện gì đang xảy ra. Người thông dịch viên trong trang phục lính Pakistan, vội vàng bước ra giải thích đây là một cuộc tập dượt của quân đội chính phủ, xin mời bà con ai về nhà nấy ngay lập tức. Có người còn luyến tiếc lẫn tò mò, cố gắng nấn ná lại để coi; người thông dịch viên phải lên đạn cây súng, tiếng sắt thép vang lên rợn người, anh ta ra lệnh phải về, nếu không bị bắn.

Bên trong nhà, toàn biệt kích, ai nấy lo phận sự của mình. Họ làm thật nhanh và gọn gàng, khuân đi tất cả máy móc điện toán, giấy tờ, tài liệu, và những gì cần thiết. Một người lính đang lấy mẫu DNA của OBL và dùng con dao mổ nhỏ xíu cắt toàn bộ miếng da mặt của tên trùm khủng bố, bỏ vào một cái hộp đặc biệt. Xong việc anh ta đưa ngón tay trỏ và ngón cái giao nhau thành hình tròn, gật đầu ra dấu cho trưởng toán.

Trong phòng tình hình tại tòa Bạch Ốc, ai nấy nín thở theo dõi toàn cảnh hành động trên màn ảnh lớn, từng tích tắc một, gương mặt ai cũng căng thẳng vì hồi hộp. Người trưởng toán biệt kích xuất hiện trước ống kính, nói ngắn gọn 1 câu:

-  For God and country- Geronimo, Geronimo, Geronimo. Geronimo E-K-I-A. (Geronimo Enemy Killed In Action). (1) Geronimo bị giết ngay tại trận.
Cả căn phòng thở phào nhẹ nhõm, những gương mặt căng thẳng giờ dãn ra tươi tắn, tiếng vỗ tay high-five vang lên trong căn phòng tràn ngập tiếng bàn tán xôn xao.

Vài phút sau, người trưởng toán lại đứng trước ống kính, nói thật nhanh:
Package secure. (Hàng đã được đóng gói).
                                                                                    
*

Phương án B: chiếc trực thăng Shinook CH-47 dự bị đến liền sau đó, đáp xuống sân bên ngoài khuôn viên tòa nhà, “bốc” toán biệt kích của chiếc thứ nhất đã bị hư. Cả nhóm 22 người chia nhau lên 2 chiếc trực thăng, chỉ còn lại một người trưởng toán của nhóm thứ 2, anh đi một vòng thật nhanh quan sát chiếc Sikorsky bị nạn, rồi cũng nhanh nhẹn nhảy lên máy bay. Vừa cất cánh lên cao trong khoảng cách an toàn, anh móc túi lấy cái “remote” ra, bấm cái nút đỏ, một tiếng nổ vang, xác chiếc trực thăng nằm lại nổ tung, ngọn lửa bùng lên cao.

Cả hai chiếc trực thăng xả hết tốc lực bay đi. Lúc này, không quân Pakistan mới bắt đầu đẩy 2 chiếc chiến đấu cơ F-16 ra khỏi hangar, khởi động máy, bay lên tìm kiếm thì hai chiếc trực thăng chở toán biệt kích Seal Team 6 đã về gần tới không phận Afghanistan.

Viên phi công loan báo “welcome to Afghanistan”, mọi người đều kêu lên vui mừng “we make it”.

Người trưởng toán, một lần nữa, xuất hiện trên màn ảnh căn phòng tình hình tòa Bạch Ốc.

All Eagles home. (Tất cả về nhà an toàn).

02:52. Hai chiếc trực thăng về đến căn cứ Jalalabad an toàn, không thiệt hại về nhân mạng, chỉ mất một chiếc Sikorsky. Hai nhân viên chịu trách nhiệm, ra tận đường băng, bắt tay chúc mừng nhóm đặc nhiệm đã hoàn thành chiến dịch, giết được tên đầu sỏ cuối cùng chịu trách nhiệm cho vụ khủng bố 9-11. Mọi người nhìn nhau, gương mặt nghiêm nghị, nhưng ánh mắt nói lên niềm vui chiến thắng.

Ngoài những tài liệu liên quan đến nhân sự và những kế hoạch phá hoại trong tương lai tịch thu tại hiện trường đã giúp chính phủ Mỹ và đồng minh tránh được nhiều vụ khủng bố sau này; có thêm những máy tính, nhiều ổ cứng chứa đựng rất nhiều phim XXX mà OBL đã cất công sưu tầm bao lâu nay, tất cả đều được sản xuất từ các nước phương Tây và Mỹ mà OBL thường hay rao giảng cho đàn em là đồi trụy.

Ngày 3 tháng 5, 2011, khi bình minh với những tia nắng vàng vừa nhô lên phía chân trời, một chiếc C-130 cất cánh từ căn cứ Jalalabad, Afghanistan, bay trực chỉ ngoài khơi phía Bắc vùng biển Arabian Sea, nhẹ nhàng đáp xuống chiếc hàng không mẫu h ạm USS Carlson. Hai người lính khiêng xuống một chiếc băng ca, trên đó một xác người bọc trong vải liệm trắng. Họ chuyển cái xác vào trong một cái bọc vải có đeo chì, rất nặng. Một chiếc xe nâng hàng nhấc cái bọc nặng nề đó và đặt lên trên một miếng ván ép. Một nghi lễ thủy táng theo phong tục Hồi Giáo diễn ra ngắn gọn, lời kinh cầu phát ra từ một máy thâu thanh. Tấm ván được nghiêng lên, cả cái bọc nặng nề trượt rơi xuống lòng biển sâu. 

Trong thế giới của những kẻ khủng bố dấu mặt trong bóng tối, chúng có thể chạy, có thể đổi tên, thậm chí thay đổi cả diện mạo; nhưng công lý, giống như bóng hình của hắn, sẽ luôn bám theo từng hơi thở, từng bước đi, suốt đời sẽ không để hắn yên ổn mà sống cuộc đời bình an. Chúng chắc chắn phải trả giá cho việc chúng làm.

Trái đất này mênh mông bao la, để kiếm ra một người không hề dễ dàng, nhưng nước Mỹ vẫn làm được. Một biểu tượng của công lý trong tội ác và trừng phạt, người Mỹ có câu: “You can run but you cannot hide”. Bạn có thể chạy, nhưng bạn không thể trốn thoát được. Ý muốn nêu lên quyết tâm của người Mỹ là khi bắt đầu việc săn lùng tên tội phạm OBL, phải hoàn thành việc đó; dù kẻ thù có trốn tránh bất cứ ngóc ngách nào trên trái địa cầu này, chúng tôi vẫn tìm ra và trừng phạt hắn. Công lý có thể chậm, nhưng lúc nào cũng chiến thắng.
 
NGUYỄN VĂN TỚI.
Tưởng nhớ 24 năm biến cố 9-11.


Tuesday, November 18, 2025

Chuyến Xe Lam Chiều - Thùy Anh

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Chuyến Xe Lam Chiều/Ca sĩ Thùy Anh

Friday, November 14, 2025

Là Em Cô Gái Việt Nam - Lê Thu Uyên

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Là Em Cô Gái Việt Nam/Ca sĩ Lê Thu Uyên 

Sunday, November 9, 2025

40 NĂM TÌM BẠN - Đoàn Kế Tường

40 NĂM TÌM BẠN

“Gần 40 năm trời trôi qua, tôi đã lần mò khắp nơi, và kể từ khi có internet thì ngày nào cũng lang thang trên khắp các trang mạng, cố tìm cho bằng được tông tích người bạn chí cốt là Ngô Văn Khiêm, nguyên Đại Úy, Pháo đội trưởng, pháo đội A, Tiểu đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù. Gặp gỡ bất cứ ai, nghe nói trước đây ở binh chủng Dù, tôi cũng dọ hỏi. Nhiều lần nhờ Du Tử Lê, liên hệ với anh em Nhảy Dù đang định cư ở Mỹ hỏi giùm, nhưng số anh em mà Du Tử Lê quen biết cũng chỉ lắc đầu. Mọi chuyện tưởng như đã không còn hy vọng, khi tuổi đời ngày càng chồng chất và thời gian còn lại trên trần gian cũng chẳng bao nhiêu. Bỗng dưng, cách nay nửa tháng, tôi tình cờ đọc được một bài viết ngắn của vài anh em Nhảy Dù đi tìm xác đồng đội, mới hay một năm trước đây, những anh em này, nhờ sự hướng dẫn của dân làng, đã tìm được một nấm mồ tập thể, chôn gần 2 xe GMC những chiến sĩ mũ đỏ đã vị quốc vong thân ngày 16/4/1975 tại phi trường Phan Rang. Bao gồm Trung tá Trần Văn Sơn, Lữ đoàn Phó, Lữ đoàn 2 Dù, Thiếu Tá Đặng Đình Tựu, trưởng ban 3 Tiểu Đoàn 1/Pháo Binh Dù, Đại Úy Ngô Văn Khiêm, Pháo dội trưởng Pháo đội A, Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Dù, và nhiều anh em vô danh khác. Cà Tèm, một chiến sĩ mũ đỏ trong nhóm đi tìm xác cho biết, tất cả chỉ còn là những nắm xương tàn nằm chung với nhau một huyệt, nên đã giữ nguyên trạng nấm mồ tập thể và chỉ xây một cái miếu nhỏ để thờ. Ngay sau đó, tôi được đọc thêm một bài viết của Thiếu Tá Nhảy dù Trương Dưỡng, mới hiểu rõ bạn mình và đồng đội đã chiến đấu hào hùng và hy sinh bi tráng như thế nào. Dĩ nhiên, tôi đã khóc, khóc một cách tự nhiên cho dù “tuổi già hạt lệ như sương!” Sau bao nhiêu năm tìm nhau, giờ thì mới hay bạn mình đã vĩnh viễn nằm xuống và ở lại với mảnh đất Phan Rang trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.

Năm 1965, giã từ mái trường Thiếu Sinh Quân thân yêu, tôi thực sự bước vào cuộc chiến. Đơn vị đầu tiên trong đời chiến binh của tôi là trại LLĐB Lộc Ninh, nằm cuối phi đạo dã chiến, đủ cho các loại máy bay C.123, C119 và Caribu lên, xuống. Tất cả đều nằm lọt thỏm giữa những cánh rừng bạt ngàn, xanh um trên nền đất bazan đỏ hơn màu máu. Cũng giống như hầu hết các trại LLĐB khác vào thời đó, toàn nằm dọc theo biên giới, hiếm có trại nào tọa lạc gần khu dân cư nên buồn lắm. Ấy vậy mà chỉ chưa đầy 3 tháng, tôi lại được lệnh lên trực thăng về tăng cường cho trại Chí Linh (Sông Bé) giữa lòng chiến khu Đ, cách Đồng Xoài chỉ hơn 10 cây số đường chim bay. Chưa hết, ở Sông Bé được mấy tháng, tôi lại vác ba lô lên thẳng Phước Long (BCH B.14 LLĐB), trình diện Đại Úy Lưu Yểm (Về sau ông làm tỉnh trưởng Phước Long, rồi Biên Hòa) và được điều phối về trại Bù Đốp. Đến khi, thành lập trại Tống Lê Chân (B.16 LLĐB), tôi lại theo chân mấy đại đội Biệt Kích Quân tăng cường qua đó một thời gian để làm hàng rào phòng thủ, bảo vệ cho công binh Mỹ san ủi mặt bằng, xây cất công sự...Cứ thế, quanh quẩn mãi với mấy cái trại biên phòng, thuộc B.14, B15, B16 cũng mất hết mấy năm. Sau Mậu Thân, tôi lại được quay trở về lại Lộc Ninh.

Lúc bấy giờ, trại LLĐB Lộc Ninh đã dời lên ở giữa phi trường, cách chi khu Lộc Ninh 1 km, khu trại cũ dưới thung lũng được làm khu gia binh do một trung đội BKQ canh gác, bảo vệ. Quân số trong trại bao gồm một toán A LLĐB Hoa Kỳ (12 người), một toán A LLĐB VN (12 người) 2 Trung đội Trinh Sát, 4 Đại Đội BKQ (1 Đại đội toàn người Miên và 3 Đại đội có dàn chỉ huy là người Kinh, còn từ cấp Trung đội trưởng trở xuống, hầu hết là người dân tộc Stieng). Tổng cộng tất cả hơn 400 tay súng, nhưng một nửa quân số luôn hoạt động bên ngoài, có khi cách xa trại vài chục cây số là thường. Mọi sinh hoạt trong trại đều diễn ra dưới những căn hầm bán lộ thiên với 2/3 nằm dưới mặt đất và những giao thông hào kiên cố. Giữa năm 1968 trại bị Công trường 7 và 2 trung đoàn Q.762 Q.763 VC tấn công. Trận đánh khốc liệt này được đài phát thanh Quân Đội và các báo tại Sài Gòn hồi đó gọi là trận Dạ Chiến Lộc Ninh.

Vài tuần lễ sau khi trận chiến đi qua, có mấy xe Công Binh vào trại ủi đất để làm vị trí cho Pháo Binh. Chúng tôi được thông báo là trại sẽ được tăng cường 2 khẩu 105 ly. Chỉ một ngày sau khi vị trí hoàn chỉnh, thì một trung đội Pháo Binh thuộc Tiểu Đoàn 52/PB, Sư Đoàn 5, kéo súng vào trại. Chỉ huy Trung đội này là Trung Úy Nguyễn Trí Thức với 2 sĩ quan Tiền Sát Viên còn rất trẻ: Chuẩn Úy Ngô Văn Khiêm và Chuẩn Úy Huỳnh Công Ni. Khỏi phải nói, có thêm một trung đội người Kinh trong trại, chúng tôi vui biết chừng nào... Ngay buổi chiều hôm đó, tôi đã sang vị trí của họ để làm quen. Ngô Văn Khiêm quê ở Chợ Gạo, Mỹ Tho. Tánh tình hồn hậu, hay nói chuyện tiếu lâm và rất chân tình nên dễ gần gũi. Còn Huỳnh Công Ni gốc gác Đà Lạt, hiền lành nhưng có cung cách một công tử, con nhà giàu. Kể từ đó, tôi với Khiêm trở thành đôi bạn thân. Tối nào tôi cũng qua vị trí của Khiêm ngồi tán gẫu đủ thứ chuyện trên đời. Có hôm nhậu lai rai, có hôm pha cà-phê ngồi uống cho tới khuya. Không ít lần, đang ngồi với nhau thì bị pháo kích. Tôi lao xuống giao thông hào chạy vội về vị trí. Chưa đến nơi đã nghe tiếng 105 ly phản pháo, át cả tiếng đạn súng cối nổ trên phòng tuyến. Những lần như thế, mới mờ sáng Khiêm đã chạy qua đánh thức tôi dậy, vừa nói, vừa cười: “Tao sang coi mày còn sống hay đã chết.”

Ở Lộc Ninh, trời đã buồn lại càng buồn hơn nữa vào những ngày mưa. Mưa làm cho mặt đất đỏ lầy lội, dính chặt như keo, nên chỉ còn ngồi trong hầm nhìn ra khoảng không gian chật chội, nặng chĩu màu mây xám xịt. Lúc bấy giờ, Huỳnh Công Ni đã có vợ, nên thường đem hình ra khoe với chúng tôi. Con gái Đà Lạt lúc nào cũng chưng diện thật đẹp. Còn tôi và Khiêm thì chưa đứa nào có được mối tình đầu. Khiêm kể:

- Hồi còn đi học ở Mỹ Tho, tao cũng phải lòng vài con bạn cùng lớp. Nhưng nhát quá, mới đứng gần đã run nên không dám tỏ tình, đành để mấy em ôm cặp theo mấy thằng bạo miệng, bạo mồm. Xong tú tài, thì xếp bút nghiên vào Thủ Đức, ra trường, đi làm pháo thủ toàn ở những nơi khỉ ho, cò gáy, thế là dang dở đời trai.

Thứ bảy, chúa nhật, hôm nào không hành quân, tôi và Khiêm cũng rủ nhau ra phố chợ Lộc Ninh vào quán A-Lìn, bên bờ suối, ngồi uống cà-phê. Đó là một phố chợ không đèn, hiu hắt với vài hàng quán lèo tèo và một bến xe bụi bặm, loe hoe vài chiếc xe đò cũ kỹ chạy đường Lộc Ninh-Bình Long. Dãy phố bên hông bến xe là tiệm thuốc tây Mặc Khải (thân phụ của nhà văn nữ Thụy Vũ) Nhưng ở đây vào ngày cuối tuần cũng rộn ràng bước chân của những cô thiếu nữ ở các làng cao su thuộc đồn điền Cexo của Tây, đổ ra mua sắm. Thấy chúng tôi ngắm nghía các em một cách say sưa, mấy anh em Hạ Sĩ Quan An Ninh bên chi khu góp ý:

- Các xếp đừng đụng tới mấy em ở làng 2, làng 7, làng 9, làng 10, toàn là VC không đó. Mấy làng này nằm ngoài vòng kiểm soát của mình nên đậu nhiều hơn xôi!

Thật ra có cho kẹo thì chúng tôi cũng không dám đụng đến các em. Ít khi nào chúng tôi còn nấn ná ngoài chợ khi trời sắp ngả về chiều. Cứ kéo nhau vào trại là chắc ăn. Điều mà tôi với Khiêm thường nói với nhau là nghĩ đến một ngày phải chia tay, mỗi đứa một phương trời. Đời lính biết đâu mà hẹn trước!

Rồi một hôm, Chi Thông Tin Lộc Ninh tổ chức một đêm văn nghệ cây nhà lá vườn. Đây là một sinh hoạt văn hóa hiếm khi diễn ra ở cái vùng đất heo hút này. Trong số quan khách được mời có cả tôi và Khiêm. Đó là một đêm vui mà tiết mục hấp dẫn nhứt là các em nữ sinh trường Trung học Lộc Ninh (Đệ nhất cấp) được các thầy cô dẫn đi làm khán giả cổ động... Trong số đó có con bé Mai thật dịu dàng, xinh xắn và dễ thương. Dường như Khiêm chẳng để ý đến những gì đang diễn ra trên sân khấu, mà chỉ quay sang chiêm ngưỡng cô bé như bị hút hồn. Nó chỉ Mai cho tôi, và nhở tôi tìm cách nói với cô bé, lát nữa có người muốn đưa về, có được không? Tôi cứ tưởng mình làm chuyện cầu âu cho vừa lòng bạn, nhưng không ngờ Khiêm và Mai quen nhau từ đó và tôi nghiễm nhiên trở thành ông mai. Một ông mai mặc áo rằn ri, chân đi giày bốt-đờ-sô. Giữa mùa mưa năm đó, Trung đội của Khiêm kéo súng về đồi Đồng Long (An Lộc), thay thế vào đó là một trung đội khác. Sáng sớm, tôi chạy qua chỗ Khiêm thì thấy 2 khẩu 105 ly đã được móc vào 2 xe GMC. Hai chúng tôi chỉ kịp ôm nhau nói lời từ biệt trước khi tôi dẫn một Đại đội Biệt Kích đi nằm đường, rải từ ngã ba Xóm Bưng đến cầu Cần Lê trên quốc lộ 13, để an ninh lộ trình cho trung đội của Khiêm di chuyển. Gần trưa, tôi đứng ở đầu cầu Cần Lê, thì Khiêm đi qua, nó ngồi trên ca-bin chiếc GMC đầu tiên, cố thò đầu ra hét với tôi:

- Mày ở lại mạnh giỏi, thế nào cũng gặp lại nhau. Tao luôn nhớ mày.

Tôi quay mặt sang hướng khác, không nhìn đoàn xe đi qua. Xong nhiệm vụ, tôi rút quân về. Buổi chiều ngồi một mình uống cạn mấy lon bia mà nhớ bạn đến nao lòng. Ngày đó, làm gì có điện thoại di động như bây giờ. Ngay cả điện thoại hữu tuyến cũng chỉ nối đường dây nội bộ trong phạm vi trại mà thôi. Liên lạc xa chỉ trông cậy vào máy siêu tần số với hệ thống quay đầu bò (dinamo) và một hiệu thính viên... Còn liên lạc ngắn thì có máy ANPR C25. Chính vì thế mà có nhớ nhau đến mấy, tôi và Khiêm cũng không thể liên lạc với nhau. Mấy tuần sau, tôi nhận được thư Khiêm, nó nói, về nằm với Pháo Đội trên đồi Đồng Long, sát nách tỉnh lỵ Bình Long nên cũng đỡ khổ. Gần cuối thư nó viết: “Tao báo cho mày hai tin vui. Thứ nhứt, tao và Huỳnh Công Ni vừa làm đơn xin thuyên chuyển qua Pháo Binh Nhảy Dù, đơn đã được chuyển đi. Thứ hai, Mai cũng vừa về Bình Long trọ học (đệ nhị cấp). Tao định sẽ cưới Mai làm vợ, nhưng không biết nhà người ta có chịu gả con cho đám lính tráng như tụi mình hay không?” Tôi đã đọc thư Khiêm nhiều lần đến thuộc lòng.Tháng sau, theo chân một cuộc hành quân mở đường để đoàn công-voa của đồn điền cao su CEXO chở gạo lên cho hơn 10 ngàn công nhân cạo mủ. Tôi về Bình Long gặp Khiêm. Buổi trưa, Khiêm, Mai và tôi rủ nhau vào một quán cơm ở chợ cũ, đầu con dốc Đại Lộ Hoàng Hôn. Nhìn hai đứa nó khắng khít bên nhau trông rất rất hạnh phúc và đẹp đôi khiến tôi cũng vui lây niềm vui của bạn. Ăn cơm xong, chẳng biết đi đâu vì tỉnh lỵ quá nhỏ, quá nghèo. Thế là vào một quán cà-phê ngồi tâm sự. Mấy tháng sau, thì Khiêm thư cho tôi báo đã cùng với Ni qua Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù.

Năm 1970, tôi về Chiến Đoàn 3 Xung Kích Lưu Động (B.23 –Mike-Force ở Long Hải. Chiến đoàn có 3 Tiểu đoàn Biệt Kích Quân Tiếp Ứng, quanh năm đi hành quân xa. Tôi may mắn gặp Thiếu Tá Ngô Đình Lưu, nhận ra người miền Trung với nhau nên xếp cho về ban 5, suốt ngày chỉ quanh quẩn ở hậu cứ. Thời gian này, Ngô Văn Khiêm được Tiểu Đoàn 1/PB Dù cho đi học một khóa Chiến Tranh Chánh Trị kéo dài hơn tháng tại trại Lê Lợi, trong Biệt Khu Thủ Đô, đường Lê Văn Duyệt. Còn Mai thì theo gia đình về Sài Gòn ở Thanh Đa và mới bước vào Đại học Văn Khoa. Thế là cuối tuần nào tôi cũng từ Long Hải vù về Sài Gòn, cặp kè với Khiêm ra Thanh Đa đón Mai. Có khi vào rạp Rex coi xi-nê, có khi ra Mai Hương ngồi ăn kem, chứ chẳng biết làm gì hơn ở cái đất Sài Gòn hoa lệ mà chúng tôi thì tiền lính-tính liền!

Giữa năm 1970, tôi từ giã cuộc đời Biệt Kích, quay về quê nhà ở Quảng Trị. Cứ tưởng còn lâu mới gặp lại Khiêm. Cuối năm đó tôi nhận được tin Khiêm lên Bình Long làm đám cưới với Mai, nhưng tôi không về được. Nào ngờ, đầu năm 1971, Khiêm tham dự hành quân Lam Sơn 719, đánh sang Hạ Lào. Khi đơn vị của Khiêm triệt thoái về Đông Hà, tôi đã đi tìm và gặp được cả Khiêm lẫn Ni và thêm một người bạn mới có cái biệt danh là “Dưỡng Cà Lăm”. Lúc bấy giờ cả ba đã đeo lon Trung Úy. Sau chiến dịch này, Huỳnh Công Ni xin về Pháo Binh Diện Địa, thuộc Tiểu Khu Lâm Đồng. Tôi đưa Khiêm về nhà. Mẹ tôi hỏi nó muốn ăn gì? Nó nói thèm canh chua miền Nam lắm. Mẹ tôi, một bà Mẹ quê miền Trung chơn chất, ít khi bước ra khỏi lũy tre làng. Nay vì chiến tranh phải tản cư lên tỉnh, nên không biết canh chua nam bộ là thứ gì. Thế là hai đứa ra chợ mua cá lóc, me chua và đủ món gia vị, đem về tự nấu. Chẳng hiểu có ngon lành gì không mà Khiêm cứ khen lấy, khen để. Chiều hôm đó, tôi và Khiêm về Huế. Hai thằng chui xuống một chiếc đò dưới chân cầu Gia Hội, kêu chủ đò chèo ra neo giữa lòng sông Hương nằm tâm sự cứ như là nhơn tình. Đó là lần đầu tiên tôi nghe Khiêm triết lý về cuộc sống. Nó nói: “Chiến tranh ngày càng khốc liệt. Cứ đánh hết trận này đến trận khác. Tao nghĩ thế nào cũng có ngày ngã gục, không thì cũng tàn phế, bởi đi đêm hoài phải có lúc gặp ma. Tao học được ở đời lính hai điều. Thứ nhứt là ý nghĩa 4 chữ “ Cư-An- Tư Nguy” quá tuyệt vời trên phù hiệu của trường Thủ Đức. Nhưng từ khi học được câu này thì chưa bao giờ “ Cư An” mà chỉ toàn là “Tư Nguy”. Thứ hai là khẩu hiệu “Nhảy Dù – Cố Gắng hết sức khiêm nhường. Quả thật, không ngày nào là không cố gắng, cố gắng không ngưng nghỉ mà chẳng biết cái gì đang chờ mình ở phía trước! Thôi thì cứ tiếp tục cố gắng, cố gắng đến cùng vậy”. Rồi Khiêm nhắc đến Mai, đến cái tương lai thật đơn sơ mà hai đứa mơ ước. Tôi nghe mà thương nó lắm, bởi cảm giác như bạn mình chẳng khác nào một con ngựa hồng sắp mỏi vó! Sáng sớm hôm sau, hai đứa lại chia tay, lại hẹn ngày gặp lại. Khiêm ra Đông Hà với đơn vị đang tái phối trí, còn tôi về Quảng Trị.

Mùa hè đỏ lửa 1972, tôi làm phóng viên chiến trường, hết theo chân các đơn vị TQLC, đến Nhảy Dù tiến về Cổ Thành. Một lần biết được Pháo đội của Khiêm đang chốt vị trí tại một bãi cát bên phải quốc lộ 1, gần ngã 3 Hải Lăng, Lúc bấy giờ Khiêm đã lên Đại Úy, giữ chức vụ Pháo đội trưởng Pháo đội A, Tiểu đoàn 1 Pháo binh Dù. Chúng tôi ngồi ăn trưa trong tiếng nổ ì ầm liên tục, rung chuyển cả mặt đất. Tiếng đạn 130 ly từ trên núi rót xuống, tiếng 105 ly của Khiêm bắn đi yểm trợ cho các cánh quân đang tiến về Cổ Thành. Ai mà yếu bóng vía và không giỏi chịu đựng, chỉ cần ở đây vài phút là đã run như cầy sấy. Vậy mà Khiêm và các chiến binh can trường vẫn sống một cách hào hùng hết ngày này, sang tháng khác trong hoàn cảnh như thế.

Khiêm hỏi tôi bà già và các em đang ở đâu? Tôi cho Khiêm biết tất cả đều bình an và đang sống ở khu tản cư Non Nước, Đà Nẵng. Quả thật, trong chiến tranh, người dân Quảng Trị cũng gian truân chẳng kém gì đời lính. Họ liên tục có những cuộc bỏ phiếu bằng chân để lựa chọn. Bất chấp bom đạn trên đầu, cứ tìm nơi nào có bóng dáng người lính VNCH mà đến...

Sau bữa cơm, tôi thấy nét mặt Khiêm đượm buồn, cho dù sạm nắng và dày dạn phong sương rất nhiều. Khiêm nói:

- Báo cho mày biết, tao sắp làm cha. Ngày trước, chẳng ngán gì đường tên, mũi đạn, bất quá “áo bào thay chiếu anh về đất” là cùng. Còn bây giờ, khi biết mình sắp có con thì hơi lạnh cẳng! Thôi thì cứ phó thác cho số phận.

Ngưng một lát, Khiêm đứng dậy móc trong túi quần trận ra đưa cho tôi một xấp tiền. Nó nói tiếp:

- Đường từ đây về Huế rất an toàn, tất cả đều nằm trong sự kiểm soát của mình, ngoại trừ pháo kích thì không biết đâu mà lần. Lát nữa tao cho tài xế lái xe jeep đưa mày về Huế. Đó là lịnh, mày không được cãi. Mày không nên ở đây đêm nay. Tao gửi mày 5 ngàn. Cho mày 2 ngàn, coi như tao rửa lon Đại Úy trễ với mày. Gửi bà già 3 ngàn cho tao yên lòng. Tao ở giữa chiến trận thì để tiền trong túi mà làm gì. Mày cứ tiêu giùm tao...”

Tôi siết chặt tay Khiêm và nắm lấy thật lâu. Tự nhiên tôi trào nước mắt, chỉ thốt được một câu:

- Tao thương mày quá Khiêm ơi!

Khiêm nhìn tôi cố cười gượng:

- Đ.m tinh thần Biệt Kích của mày đâu rồi? Ngày xưa tao ngưỡng mộ cái ngang tàng của mày lắm mà. Sao bây giờ lại yếu đuối thế! Đó là lần cuối cùng tôi gặp Khiêm! Cho dù thỉnh thoảng tôi vẫn ghé lại hậu cứ Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Dù, nằm sát Tiểu Đoàn 9 trong trại Hoàng Hoa Thám để hỏi tin tức và biết chắc nó vẫn chân cứng, đá mềm trên khắp nẻo chiến trường.

Sau ngày 30/4/1975, tôi hy vọng Khiêm sẽ trở về, nhưng chờ hoài chẳng thấy. Một thời gian sau, tôi khăn gói đi vào trại tù, nơi được gọi là trại cải tạo! Ròng rã 10 năm lao lý, mỗi lần có số anh em từ trại khác chuyển đến, tôi đều dọ hỏi, nhưng cũng chẳng có ai biết Khiêm ở đâu. Năm 1985, tôi ra trại. Lại tiếp tục tìm kiếm. Bấy giờ tôi lại hy vọng bạn mình đã nhanh chân di tản được sang Mỹ, vì nghe nói Nhảy Dù và TQLC đi nhiều lắm. Cho đến khi có internet, tối nào trước khi tắt máy đi ngủ, tôi cũng gõ vào Google “Đại Úy Ngô Văn Khiêm pháo đội trưởng pháo đội A tiểu đoàn 1 pháo binh sư đoàn nhảy dù” và lần nào mạng cũng cho kết quả “Không hiển thị”.

Thế rồi, một buổi tối đầu tháng 7/2014, tôi đã hồi hộp đến nghẹn thở khi thấy tên Khiêm xuất hiện trên mạng, trong bài viết mang tựa đề “Cải táng những chiến sĩ mũ đỏ đã vị quốc vong thân ngày 16/4/1975 tại phi trường Phan Rang-tỉnh Ninh Thuận”. Người viết muốn thông báo cho bà con, bạn bè, thân hữu của Trung Tá Sơn, Thiếu tá Tựu và Đại Úy Khiêm là đã tìm được nấm mồ tập thể, chôn hài cốt của 3 anh em có cấp bậc cao nhứt và một số chiến hữu khác dưới chưn Núi Ngỗng, xã Ninh Sơn. Tháng 3/2013, một ngôi miếu nhỏ được xây dựng tại đó, sau 38 năm những cánh hoa dù về an nghĩ giữa lòng đất mẹ mà không ai nhang khói! Ý chừng để tránh phiền toái, tác giả bài viết ký tên là Cà Tèm với số điện thoại khuyến mãi: 01886423011. Mừng quá, tôi bấm ngay số điện thoại của Cà Tèm nhưng chỉ nghe tổng đài trả lời “số thuê bao đã tạm khóa, xin quý khách gọi lại sau”.

Thất vọng, nhưng tôi vẫn kiên trì gọi mỗi ngày 3 lần: sáng, trưa, chiều... Rồi gần 10 ngày sau, một buổi sáng tôi nghe chuông đổ. Đầu máy bên kia một giọng đàn ông lớn tuổi vang lên. Tôi giới thiệu ngay mình là bạn chí cốt của Ngô Văn Khiêm, rất xúc động khi đọc được tin này và rất cảm kích trước việc đi tìm xác đồng đội của anh em. Người đàn ông nói, anh ta cũng là chiến sĩ mũ đỏ và quê quán tại Phan Rang. Vì quá thương chiến hữu mà mấy chục năm qua cứ lùng sục, tìm kiếm để lo cho đồng đội một nấm mồ mới thấy yên lòng. Sau đó, Cà Tèm cho tôi số điện thoại thường dùng và tên thật của anh. Tôi hỏi Cà Tèm, hiện nay Khiêm có còn thân nhân nào không? Cà Tèm nói có, chị Mai vợ của anh đang ở Úc. Dù đã có gia đình mới nhưng hôm xây miếu cho anh Khiêm, chị cũng gửi tiền về. Tôi lại hỏi Cà Tèm có cách nào liên lạc được với Mai không? Cà Tèm nói sẽ gọi đt cho người em chồng hiện nay của Mai đang định cư ở Sài Gòn. Nhờ anh ta chuyển ngay cho Mai tên và số đt của tôi. Nếu cần thì Mai sẽ gọi. Cà Tèm cúp máy. Tôi tưởng nếu có thì cũng phải chờ một vài ngày Mai mới gọi cho tôi, bởi đã mất liên lạc với nhau hơn 40 năm rồi còn gì. Ấy thế mà chỉ một tiếng đồng hồ sau, chuông điện thoại của tôi reo, đầu máy bên kia giọng một người phụ nữ đứng tuổi nói trong xúc động:

- Có phải anh Tường không? Em là Mai vợ anh Khiêm ở Úc gọi về cho anh đây.

Quá xúc động, tôi hét lên trong máy:

- Mai ơi, Mai khỏe không?

- Em khỏe. Mấy chục năm qua, em cũng nhiều lần dò hỏi tin tức về anh nhưng không có ai trả lời chính xác... Anh Tường ơi, tội nghiệp Khiêm lắm. Những ngày tháng cuối cùng không hiểu linh tính thế nào mà Khiêm thường nói với em:

“Nữa, anh chết đi, anh sẽ kiếm cho em một người chồng tử tế. Còn thằng nào không đường hoàng anh sẽ không gả em đâu.” Rồi Khiêm lại mang hết đồ đạc về nhà và dặn dò em, chiến tranh chừng cũng sắp kết thúc, anh sẽ về sống mãi mãi bên em.”

Ngưng một lát, dường như để nén cảm xúc, Mai nói tiếp:

- Suốt đêm 16/4/1975, em không thể chợp mắt một phút nào cả. Lòng cứ nóng như lửa đốt. Mấy ngày sau, có một người y tá thuộc đơn vị của Khiêm, tên là Phan Bá Em đến nhà cho em biết. Sáng hôm đó, bên mình hầu như đạn dược, lương thực đã cạn kiệt và cộng quân đã tràn vào phi trường. Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ đoàn phó, Lữ đoàn 2 Dù bị trúng một băng đạn vào người, ngã gục tại chỗ. Kế đó, Thiếu tá Đặng Đình Tựu cũng bị trúng đạn pháo kích và tử trận. Còn Khiêm thì bị thương nặng ở bụng và ở chân. Vừa lúc đó, có một chiếc phi cơ chở đồ tiếp tế ra và bốc thương binh về. Khiêm được đưa lên phi cơ và y tá Em băng bó tạm thời.

Lúc bấy giờ, y tá Em cũng bị thương nhẹ ở tay. Nhưng rồi, phi trường bị pháo kích nặng, phi cơ không cất cánh lên được. Ông Em nói với Khiêm : “Đại úy bị thương nặng, không đi được, phải nằm lại thôi. Còn em, trong tình hình này phải rời đây ngay.” Khiêm nắm tay người y tá và dặn, “cậu cố gặp vợ con tôi, kể cho họ biết. Nói là tôi yêu thương vợ con lắm. Thôi cậu đi. Chúc may mắn”. Thế là Khiêm không bao giờ về nữa! Những ngày cuối tháng 4/75, chiến trường Long Khánh bùng nổ dữ dội, em rất muốn ra Phan Rang tìm anh Khiêm, nhưng đường sá chưa lưu thông. Đến ngày 4/5, em ra Phan Rang, đến phi trường thì gặp đám bộ đội còn trẻ canh gác ở đó cho biết. Đơn vị dọn dẹp phi trường và thu gom xác chết vài tuần trước đã di chuyển di nơi khác. Còn họ mới đến vài ngày nay nên không biết gì cả. Hai tháng sau, em trở ra Phan Rang 10 ngày cứ tìm kiếm, hỏi han khắp nơi, nhưng đành chịu thua... Sau đó, vì cuộc sống, em khai chồng chết và nhờ có học mấy năm văn khoa, em được họ cho học một lớp sư phạm ngắn hạn, rồi phân phối về dạy trường Trung học Giồng Ông Tố. Đến năm 1982, em gặp anh Hứa Duối, nguyên Đại Úy, Đại đội trưởng 204, Quân cảnh Dù. Anh Duối trong thời gian đi tù cải tạo thì gia đình tan nát. Tụi em đã dắt dìu nhau vượt biên sang Úc và đã sống với nhau 32 năm, có được 2 đứa con, đứa nào cũng ngoan và học hành đến nơi, đến chốn. Riêng cháu Sơn, con anh Khiêm, năm nay đã 42 tuổi rồi và rất thành đạt ở Úc. Quả thật, anh Khiêm đã phù hộ cho em gặp được người chồng tốt, vừa là đồng đội cũ của anh. Anh Duối là một người đàn ông hết mực tử tế với gia đình...

Nghe Mai kể, lòng tôi buồn vui lẫn lộn. Cuối cùng, tôi cũng biết rõ tin tức của Khiêm. Thì ra, gần 40 năm qua, bạn tôi đã nằm lại ở một nơi đèo heo hút gió vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Một cuộc chiến với hồi kết thúc thật bẽ bàng...! Bây giờ là tháng bảy âm lịch. Một buổi tối ngồi trong quán cà-phê với mấy người bạn trẻ. Tôi đem câu chuyện tình bạn của tôi và Khiêm trong thời chinh chiến với đoạn cuối còn nguyên vẹn cảm xúc kể cho họ nghe và quyết định vài hôm nữa sẽ ra Núi Ngỗng, Phan Rang để đốt cho Khiêm và anh em nằm lại ở đó một nén nhang. Nào ngờ những người bạn trí thức trẻ đó không những hết sức ủng hộ mà còn muốn theo chân tôi trong chuyến đi này một cách nhiệt tình. Thế là cùng nhau bàn bạc, chọn ngày 9/8 (13/7âm lịch) khởi hành sằng xe lửa. Theo đúng kế hoạch, 4 chú cháu chúng tôi, bao gồm 2 kỹ sư điện là Hồ Cao Anh Tuấn và Nguyễn Bá Tuệ, cùng với bác sĩ Đoàn Nguyễn Hoài Lê rời Ga Sài Gòn lúc 21h tối. 06 giờ sáng hôm sau ra tới Phan Rang, nhờ Cà Tèm dẫn đường lên Núi Ngỗng. Cúng xong, chúng tôi xuống bãi biển Ninh Chữ nằm ghế bố nghỉ ngơi, chờ đến tối ra ga Tháp Chàm quay về lại Sài Gòn.

Trở lại chuyện đi tìm hai cốt bạn, từ Phan Rang, chúng tôi theo quốc lộ 27 hướng lên Đà Lạt 20 cây số. Rẽ phải, vào một con đường đất ngoằn ngoèo, chạy qua những sườn đồi trơ trụi, tha hồ gió cát mịt mù. Mới 09 giờ sáng mà nắng đã như thiêu, như đốt, giữa vùng đất cằn không một bóng cây xanh. Đi thêm 3 cây số nữa là tới một ngôi miếu nhỏ, sơn màu xanh da trời, nằm chơ vơ trên một miếng đất trống, bên phải một con đường mòn. Đó là nơi an nghỉ của Khiêm và một số đồng đội của nó. Tội nghiệp bạn tôi, khi còn sống thì lặn lội ở những nơi rừng sâu, núi thẳm gần như suốt thời trai trẻ. Khi nằm xuống, cũng ở một nơi đèo heo hút gió mà ngủ giấc ngàn thu! Nơi đây, ngày không một bóng người qua lại, đêm thiếu vắng cả ánh đèn dầu leo lét. Bạn tôi nằm dưới chân một hòn núi cô đơn, mang dáng dấp một con ngỗng trời, đầu hướng ra biển đông thì thầm sóng vỗ.

Chúng tôi dọn lễ vật đã chuẩn bị sẵn. Thắp nhang, rót rượu, đốt thuốc mời nhau, chẳng khác gì những bữa tiệc, tương phùng, lính tráng ngày xưa! Cho dù giờ đây, Khiêm chỉ còn là một nắm xương tàn, dưới nền ngôi miếu nhỏ. Nhưng tôi tin linh hồn của Khiêm và những anh em nằm lại nơi đây, đã được những con ngỗng thiêng ở chưn núi này chở theo những cánh hoa dù bay thẳng về trời từ lâu./.
 

Thursday, November 6, 2025

Cúng giỗ bà xã 2025 - Thái Huỳnh

Ngày November 6, 2025 là ngày giỗ thứ 16 cho bà xã tôi. Tôi đang ở Sàigòn và trước ngày giỗ mấy ngày, tôi đến một chùa Ni thuộc Quận 1, gần hotel tôi ở, để tôi xin Sư Cô trù trì cúng giỗ. Chùa nầy tôi đã cúng cho bà xã tôi vài lần rồi, khi thấy tôi, Sư Cô trù trì nhận ra tôi ngay. Sư Cô hoan hĩ nhận lời.

Tôi đóng tiền mâm cơm và hoa quả cho Sư Cô trù trì xong. Tôi về hotel, và tôi nhớ ra tôi quên đưa hình bà xã cho Sư Cô lập bàn thờ. Tôi mở vali lấy hình bà xã để đem đến chùa. Hình nầy luôn luôn trong vali của tôi 16 năm nay, để khi đến ngày giỗ, dù tôi đang ở xứ nào, tôi luôn luôn có hình bà xả đ cúng.

Từ 1993, khi tôi xây chùa Bảo Quang ở San Antonio Texas, ông thầu kiêm kiến trúc sư vẽ hình chùa Bảo Quang rồi lộng khung đưa cho tôi, trước khi ông xây chùa. Hình chùa nầy tôi treo trong phòng ngũ ở nhà tôi lâu nay. Nhưng năm nay, trước khi tôi về Việt Nam, tôi bán nhà tôi. Và hình chùa, không có chỗ cất, nên tôi bỏ vô cùng vali với hình bà xã.

Khi tôi mở vali để lấy hình bà xã, để đem lên chùa đưa cho Sư Cô. Tôi thò tay vô vali, đụng khung hình trong bịch nylon, tôi đinh ninh đó là hình bà xã tôi vì nó ở trong đó 16 năm nay mà. Nhưng tôi quên trong vali còn có hình chùa mà tôi mới bỏ vô. Tôi lên chùa, gặp Sư Cô, tôi đưa khung hình trong bịch nylon và nói: "Đây là hình bà xã tôi, xin Sư Cô để lên bàn vong giùm". Sư Cô hoan hĩ nhận khung hình. Tôi ra về! 

Bà xã tôi linh thiên kỳ lạ! Đi xe ôm lên xuống chùa hai hiệp, tôi mệt và tôi lên giường nằm. Tự nhiên tôi nghĩ tới hình chùa, có lẽ vì tôi mới khoe với Sư Cô trù trì, rằng tôi đã xây chùa Bảo Quang ở Mỹ. Rồi tôi nghĩ, tại sao tôi không chụp hình chùa Bảo Quang vô iphone, để khi có dịp tôi sẽ khoe với Sư Cô trù trì. Thế là tôi mở vali lấy khung hình chùa Bảo Quang ra để chụp hình. Tôi thò tay vô vali và tôi lôi ra khung hình trong bịch nylon. Trời đất! Hình trong bịch nylon là hình bà xả tôi. Tôi lật đật gọi Sư Cô trù trì để xin lỗi vì tôi đưa lộn hình chùa! Vậy là bà xã tôi đã nhắc khéo tôi, linh thiên thật! Nếu không, đến ngày giỗ, không có hình bà xã thì tôi làm sao!              

Đây là hình chùa mà tôi đưa nhầm cho Sư Cô.
Nhìn kỹ phía dưới, sẽ thấy:
 "It will be built" (Chùa sẽ được xây)  Mr Thai Huynh 1993.
Ông thầu viết hàng chử nầy để tặng tôi, vì ông thấy chúng tôi lúc bây giờ mới qua Mỹ, còn nghèo xơ xác, nên ông viết ra cho tôi yên tâm!  

Ngày xưa bà xã tôi thích ăn trái hồng mềm, nên mỗi lần cúng giỗ cho bà xã, tôi luôn luôn có trái hồng mềm. Nhìn dĩa hồng bên phải, vì tôi mua trái hồng sớm quá, nên khi tôi lên chùa đặt cúng giỗ, thì trái hồng đã chín mềm nhũn và có trái bị dập. Tôi xin Sư Cô trù trì, trái hồng nào bị dập thì Sư Cô ăn giùm tôi. Rồi đến ngày giỗ, tôi mua thêm nữa ký hồng mềm (dĩa hồng ở giữa) để phòng hờ. 

Tôi mời vài người bạn tennis đến ăn giỗ với tôi. Cúng xong, Sư Cô dọn cơm cho chúng tôi ăn. Sư Cô nấu ngon lắm.
./.

Wednesday, November 5, 2025

Huế Xưa - Như Quỳnh & Thành An


Click Vào Đây - Nhạc phẩm Huế Xưa/Ca sĩ Như Quỳnh & Thành An
 

Saturday, November 1, 2025

Huế Nhớ O - Tâm Đoan & Đặng Thế Luân

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Huế Nhớ O/Ca sĩ Tâm Đoan & Đặng Thế Luân