Thiếu nữ Việt Nam

Thiếu nữ Việt Nam
quá dễ thương

Tuesday, April 1, 2025

MÀU DA OAN NGHIỆT - Kate Chopin

 

Kate Chopin

MÀU DA OAN NGHIỆT

“Em trai tôi và tôi đã bị xét xử từ lâu rồi. Chúng tôi vừa mới chào đời. Chúng tôi bị xét xử vì tổ tiên chúng tôi đã bị kết tội và kết án phải sống trong một thế giới có định kiến ​​về chủng tộc.”…

“Cho dù giờ đây các ngài có tha bổng tôi, bản án kia cũng vẫn còn hiệu lực. Nó sẽ còn hiệu lực cho đến ngày tôi nhắm mắt, xuôi tay rời khỏi thế giới này.”

(Trích “Hãy để ngày ấy lụi tàn” của Gordon Gerald)

Và giờ đây, hơn 2 thế kỷ sau, mặc dù chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã bị xóa bỏ trên văn bản, nhưng nó vẫn âm ỉ hoặc “ẩn náu” trong các xung đột xã hội, dù cố ý hay vô ý. Chúng ta vẫn hy vọng rằng “ngày đó sẽ phai mờ” để mọi người thuộc mọi màu da luôn được sống vui vẻ, hòa bình và hạnh phúc trong một thế giới đầy tình người, đức tin, tình yêu và hy vọng.

Kate Chopin (1850–1904) tác giả của câu chuyện “Màu da oan nghiệt”. Bà sinh ra và lớn lên trong thời Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865), hiểu rõ những xung đột dẫn đến chiến tranh, chế độ nô lệ và phân biệt chủng tộc. Bà đã viết một câu chuyện thực sự bi thảm và đau lòng:

MÀU DA OAN NGHIỆT

Đó là một ngày đẹp trời và vui vẻ, bà Valmonde lái xe đến L'Abri để thăm Désirée và đứa con mới sinh của cô.

Cô bật cười khi nghĩ đến Désirée và đứa bé. Thấm thoát Désirée mới còn là một đứa trẻ thơ mà bây giờ đã tay ẵm tay bồng rồi. Cô nhớ lại lần chồng cô tìm thấy Désirée dưới cây cột đá cẩm thạch trước cổng trang trại Valmonde. Anh đã bế cô bé lên và cô bé đã thức dậy và bi bô "Dada" thật dễ thương. Một số người nghĩ rằng cô bé đã bị lạc vì cô bé đã đến tuổi tập đi. Những người khác tin rằng cô bé đã bị một nhóm người nhập cư Texas bỏ rơi khi họ đang băng qua Louisiana trên phà tại Coton Mais, ở vùng hạ lưu của các đồn điền bông. Bất chấp tất cả các lý thuyết và tin đồn, Désirée được coi là một món quà quý giá, một phước lành thiêng liêng mà Chúa đã ban cho gia đình Valmonde vì cô bé hiếm muộn và không thể sinh con. Sau đó, cô bé lớn lên xinh đẹp, dịu dàng, tốt bụng, được mọi người yêu mến và tôn thờ như một nữ thần đáng yêu của Valmonde.

Và cũng thật kỳ diệu khi 18 năm sau, Désirée cũng ngủ ngay dưới bóng cây cột đá cẩm thạch đó, khiến Armand Aubigny phải lòng ngay từ cái nhìn đầu tiên. Đó thực sự là tình yêu nồng cháy của gia đình Aubigny, một tình yêu sét đánh, một phát súng xuyên tim khi họ yêu nhau. Và một điều kỳ diệu nữa là tại sao Armand không biết Désirée trước đó, khi cô còn là một đứa trẻ?

Khi Armand lên 8 tuổi, cha của anh đã đưa anh trở về từ Paris vì mẹ anh đã qua đời.

Lần đầu tiên Armand gặp Désirée ở cổng trang trại Valmonde, cảm giác yêu đương và say đắm ấy đến thật nhanh chóng và mạnh mẽ – dữ dội như tuyết lở, sôi sục như cháy rừng và dữ dội như những cơn bão không thể ngăn cản…!

Ông Valmonde cũng thành thật nói rằng ông không biết nguồn gốc của Désirée, ông chỉ nuôi nấng và yêu thương cô. Armand quá yêu đến nỗi không quan tâm đến dòng dõi của Désirée. Ông Valmonde nhắc nhở ông rằng cô cũng không biết nguồn gốc hay phả hệ của mình.

Armand không cần biết, vì khi anh kết hôn với Désirée, anh sẽ đặt cho cô cái tên Aubigny, một gia đình quý tộc và được kính trọng ở Louisiana. Armand đã đặt mua đồ cưới từ Paris và phải kiên nhẫn chờ đợi mọi thứ đến để anh có thể kết hôn với Désirée.

Bốn tuần đã trôi qua, và Madame Valmonde vẫn chưa nhìn thấy Désirée hay đứa bé. Như thường lệ, khi bà lái xe vào L'Abri, bà đã bị sốc bởi cảnh tượng buồn thảm đến thế nào!

Trong nhiều năm, không ai nhìn thấy khuôn mặt của bà chủ, - mẹ của Armand - người vợ yêu dấu mà Aubigny đã kết hôn và chôn cất tại Paris; bà yêu quê hương của mình đến nỗi bà không bao giờ muốn rời xa nó, thậm chí không muốn đến thăm quê hương của chồng mình... Xa xa, một tòa nhà được quét vôi vàng với những ban công được xây dựng xung quanh. Những cây sồi già mọc trước nhà vươn những cành cây to, rậm rạp để che bóng mát, nhưng trông chúng thật buồn và u ám!

Con trai của Aubigny, mặc dù còn trẻ, đã áp đặt những luật lệ hà khắc đối với nô lệ trong trang trại, điều này luôn nhắc nhở họ về niềm vui của những ngày xưa khi Aubigny còn sống; vì anh ấy hào phóng, tốt bụng và khoan dung.

*****

Người mẹ trẻ dần hồi phục sau khi sinh, và Désirée cảm thấy thư giãn và thoải mái khi nằm trên ghế sofa. Cô ấy xinh đẹp và duyên dáng trong chiếc váy lụa trắng mỏng với ren mềm mại. Cậu bé nằm trong vòng tay cô, mặt áp vào bầu ngực ấm áp của cô, ngủ say. Người vú nuôi ngồi bên cửa sổ, quạt cho cậu bé bằng chiếc quạt lông công.

Bà Valmonde đến bên Désirée, cúi xuống, hôn cô bé một cách dịu dàng, rồi quay lại nhìn đứa trẻ.

“Ôi! Cậu bé ơi… có chuyện gì vậy?!”

Cô ấy kêu lên vì ngạc nhiên. Vào thời điểm đó, tiếng Pháp được nói ở điền trang Valmonde.

“Tôi biết là cô sẽ ngạc nhiên!” Désirée mỉm cười nói:

“Nó càng lớn, nó càng giống một con lợn sữa! Hãy nhìn chân và tay của nó, và móng của nó – nó có móng! Nhìn này, Zandine đã cắt móng cho nó sáng nay, đúng không, Zandine?

Zandine cúi đầu:

“Vâng, thưa bà!”

Desiree tiếp tục:

“Nó khóc to quá! Armand có thể nghe thấy từ xa, cho đến tận túp lều của La Blanche.”

Bà Valmonde không rời mắt khỏi đứa trẻ. Bà bế đứa trẻ lên và đi đến cửa sổ sáng để nhìn rõ hơn. Bà quan sát đứa trẻ thật kỹ, rồi nhìn Zandine như muốn hỏi, nó giống ai mà da lại đen như thể bị phơi nắng trên cánh đồng bông thế?

“Đúng vậy, thằng bé đã lớn và thay đổi rồi,” Bà Valmonde nói, nhẹ nhàng đặt đứa trẻ vào tay bà.

“Vậy Armand đã nói gì?”

Nghe câu hỏi của bà Valmonde, Désirée nở nụ cười rạng rỡ:

“Ồ, Armand tự hào và hạnh phúc khi được làm cha, tôi tin vậy, vì anh ấy có một đứa con trai, người sẽ mang họ Aubigny – và anh ấy nói rằng anh ấy sẽ yêu đứa bé nhiều như vậy nếu đó là một đứa con gái. Nhưng tôi biết không phải vậy, anh ấy nói vậy để làm tôi vui. Mẹ biết mà,” cô nói thêm, và ra hiệu cho mẹ cô nghiêng người lại gần cô và thì thầm:

“Anh ấy chưa phạt ai từ khi đứa bé chào đời. Ngay cả Negrillon cũng giả vờ đốt chân để ở nhà, tôi lo cho anh ấy, nhưng Armand chỉ cười và nói Negrillon là một “kẻ giả vờ” rất giỏi!… Ôi, mẹ ơi, con vui quá!”

Désirée đã đúng, việc kết hôn rồi có một cậu con trai đẹp trai, đáng yêu đã khiến Armand bớt kiêu ngạo, độc đoán và hống hách. Những thay đổi này khiến Désirée dịu dàng, tốt bụng cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc và yêu chồng hết lòng. Khi chồng cau mày, cô run rẩy nhưng vẫn yêu anh. Khi chồng mỉm cười, cô cảm thấy như đó là một phước lành của Chúa, bởi vì khuôn mặt đẹp trai, mạnh mẽ của Armand đã bớt cau có và cau có hơn kể từ ngày anh gặp và yêu cô.

Nhưng khi đứa con của cô được ba tháng tuổi, Désirée cảm thấy như thể một bầu không khí rất ngột ngạt đang đe dọa sự bình yên của người mẹ và đứa con. Lúc đầu, nó mơ hồ và không rõ ràng… Một nỗi lo lắng và một điều bí ẩn đang được thì thầm giữa những người nô lệ; sau đó là những chuyến thăm bất ngờ của những người hàng xóm sống xa. Và tệ hơn nữa, thái độ của chồng cô thay đổi khủng khiếp đến mức cô không dám hỏi tại sao. Khi Armand nói chuyện với cô, anh ta quay đi và không còn nhìn cô một cách dịu dàng và trìu mến nữa. Armand thường xuyên vắng nhà, và khi anh ta ở nhà, anh ta sẽ tìm cách tránh cô và đứa bé mà không có lý do. Thậm chí còn bi thảm hơn, Armand đối xử với những người nô lệ trên đồn điền một cách tàn nhẫn và độc ác như Satan. Désirée phải chịu đựng mọi thứ đã xảy ra và cô ấy bối rối và sợ hãi.

Một buổi chiều nóng nực, cô ngồi trong phòng, mặc một chiếc áo choàng mỏng bằng vải voan, cô đưa tay vuốt vài lọn tóc trên trán, mái tóc nâu vàng của cô buông xõa trên đôi vai trắng trẻo. Đứa con của cô, một cậu bé cởi trần, đang ngủ trên chiếc giường gỗ hồng sắc chạm trổ, sang trọng và uy nghiêm như một ngai vàng có màn trướng. Đột nhiên quay lại, cô bắt gặp hình ảnh đứa con lai của La Blanche (cậu có 1/4 dòng máu đen) - cậu cũng cởi trần - đang đứng gần đó, cầm một chiếc quạt lông công, quạt cho đứa con của cô. Cô nhìn đứa con của mình một cách vô hồn và buồn bã, cố gắng xua tan cảm giác buồn bã đang lớn dần trong lòng. Cô nhìn đứa con của mình rồi nhìn cậu bé lai, nhìn qua nhìn lại. "À!" Tôi hiểu rồi, điều đó quá rõ ràng, tại sao cô lại không nghĩ đến điều đó...! Cô cảm thấy lạnh và như thể có một lớp sương mù lạnh lẽo đang bao quanh cô.

Cô nghẹn ngào, muốn nói chuyện với cậu bé lai, nhưng không thể thốt ra một lời. Đột nhiên cậu bé nghe thấy có người gọi tên mình, cậu ngẩng đầu lên, bà chủ nhà ra hiệu cho cậu đi ra cửa. Cậu nhẹ nhàng đặt chiếc quạt lông công xuống, ngoan ngoãn rón rén đi đến cửa để không đánh thức đứa trẻ đang ngủ.

Désirée ngồi bất động, nhìn chằm chằm vào đứa con của mình, khuôn mặt đầy sợ hãi…!

Đúng lúc đó, Armand bước vào phòng, không thèm để ý đến vợ mình, anh ta đi thẳng đến bàn làm việc và lục lọi một số giấy tờ.

“Armand,” cô gọi tên chồng mình bằng giọng nói xuyên thấu trái tim cô, nhưng anh không nghe thấy. “Armand,” cô gọi lần nữa. Cô ngồi dậy và loạng choạng đi về phía chồng mình. “Armand,” tim cô đập nhanh, cô nắm lấy tay anh: “Hãy nhìn đứa con của chúng ta. Điều này có nghĩa là gì? Hãy nói cho em biết.”

Armand lạnh lùng hất tay vợ ra. “Nói cho tôi biết, điều đó có nghĩa là gì?”

Desiree kêu lên đau đớn...!

Armand thì thầm:

“Điều đó có nghĩa là cậu bé không phải người da trắng; và… điều đó có nghĩa là bạn cũng không phải người da trắng.”

Một lời buộc tội vô lý mà Désirée đã dũng cảm phủ nhận ngay lập tức:

“Không đúng, em là người da trắng! Nhìn tóc em kìa, tóc em màu nâu, còn mắt em thì màu xám. Armand, em vẫn thích nhìn đôi mắt xám của anh. Da anh cũng trắng nữa.” Nắm lấy cổ tay chồng:

“Nhìn này, tay tôi còn trắng hơn tay anh, Armand.”

Sau đó cô cười trong đau đớn và oán giận.

“Ồ, trắng như La Blanche!”

(La Blanche là một cô gái da trắng nhưng mẹ cô thực chất là một nô lệ da đen). Armand trả lời một cách tàn nhẫn rồi quay đi và bỏ đi…

Désirée tê liệt trong lòng. Cô nhanh chóng viết một lá thư cho Madame Valmonde.

“Mẹ ơi, họ nói con không phải người da trắng. Armand cũng nói vậy. Xin Chúa hãy nói với họ rằng điều đó không đúng. Mẹ biết điều đó không đúng! Mẹ ơi, con muốn chết, con phải chết, con không thể sống trong đau khổ mãi được!”

Bà Valmonde trả lời bức thư rất ngắn gọn:

“Désirée, con yêu của mẹ, hãy về nhà, hãy quay lại Valmonde với mẹ, mẹ sẽ luôn yêu con. Hãy đưa cháu của con về với bà nữa nhé!”

Khi Désirée nhận được lá thư của Madame Valmonde, bà mang nó đến cho chồng đọc, và để nó trên bàn. Sau đó, bà ngồi đó như một bức tượng... bất động và nhợt nhạt.

Armand im lặng, lạnh lùng lướt qua lá thư rồi không nói gì.

"Em có thể đi được không, Armand?" cô hỏi bằng giọng rõ ràng nhưng đầy mong đợi.

“Được rồi, đi thôi!”

“Anh muốn em đi không?”

“Đúng, tôi muốn anh biến đi!”

Armand cảm thấy cay đắng và cay đắng, nghĩ rằng Đấng toàn năng đã quá tàn nhẫn và bất công. Trong mọi trường hợp, anh trả thù bằng cách đâm vào trái tim đau khổ của vợ mình và hành hạ cô để trút giận. Hơn nữa, anh không còn yêu cô nữa, vì anh mang mối hận vì đã cưới cô và trao cho cô cái tên đẹp đẽ, đáng kính của gia tộc Aubigny. Cô mang trong mình dòng máu của một nô lệ da màu, điều mà anh không biết.

Désirée quay đi trong đau đớn như thể bị đấm vào mặt, cô lặng lẽ bước về phía cửa với hy vọng chồng cô sẽ gọi cô lại…

“Tạm biệt, Armand.”

Cô ấy nói như thể đang cầu xin.

Armand vẫn im lặng... Đây là cơ hội cuối cùng để anh làm hòa với vợ, nhưng trái tim anh lạnh lùng và thờ ơ.

Désirée đi tìm con, Zandine và đứa bé đang tận hưởng làn gió mát trên ban công. Cô lấy đứa trẻ từ tay y tá mà không giải thích một lời; sau đó cô bế đứa trẻ đi, biến mất dưới bóng râm của những cây sồi già....

Đó là một buổi chiều tháng Mười; mặt trời vừa lặn và những người nô lệ đang bận rộn thu hoạch bông trên cánh đồng.

Désirée vẫn mặc chiếc áo choàng mỏng, đôi dép xăng đan, mái tóc xõa và ánh nắng buổi chiều làm mái tóc mềm mại, đẹp đẽ của cô tỏa sáng. Cô không đi ra đường chính, con đường đến trang trại Valmonde, mà băng qua cánh đồng hoang, nơi có nhiều rễ cây, bụi rậm, gai và cỏ dại mọc hoang dã…

Nàng mang đứa con của mình vào sâu trong đám lau sậy của đầm lầy, vào khu rừng độc và... không bao giờ quay trở lại...!


***

Vài tuần sau, một sự kiện xảy ra tại L'Abri khiến nhiều người tò mò. Giữa sân sau, Armand ngồi bên một đống lửa lớn, xung quanh là khoảng nửa tá nô lệ, theo lệnh của chủ nhân, người có nhiệm vụ giữ cho ngọn lửa cháy sáng…

Một chiếc nôi nhỏ xinh được ném vào giàn thiêu cùng với quần áo, tã lót, mũ, găng tay của em bé... Và tất cả quần áo nhung, lụa và ren quý hiếm dành cho tầng lớp thượng lưu và người giàu...

Thứ cuối cùng bị đốt là một chồng thư, những lá thư mà Désirée đã gửi cho Armand trong thời gian họ yêu đương và đính hôn. Cuối cùng, có một lá thư bị kẹt ở dưới cùng của ngăn kéo, Armand nhặt nó lên… nhưng nó không phải của Désirée; đó là một lá thư rất cũ mà mẹ Armand đã viết cho cha anh. Armand mở nó ra và đọc: “Tình yêu của tôi, con luôn cảm ơn Chúa vì đã ban cho con một người chồng yêu thương, bảo vệ và che chở cho con”: “Nhưng trên hết những điều tốt đẹp này, ngày và đêm, con thầm cảm ơn Chúa vì đã ban phước và bảo vệ Armand, đứa con của chúng ta; con sẽ không bao giờ biết rằng người mẹ đã sinh ra con, người yêu thương con, lại mang trong mình dòng máu nô lệ da màu!”

Armand bị sốc và choáng váng…!!!

Đứa con của Désirée / bởi Kate Chopin

Gió Vi Vu Phỏng Dịch

Kate Chopin

Wednesday, March 26, 2025

Saturday, March 22, 2025

Điệu Buồn Chia Xa - Hoàng Hải

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Điệu Buồn Chia Xa/Ca sĩ Hoàng Hải

Monday, March 17, 2025

TRĂNG TÀN TRÊN HÈ PHỐ - Cao Lan

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Trăng Tàn Trên Hè Phố/Ca sĩ Cao Lan

Thursday, March 13, 2025

Gánh Mẹ - Hồ Hoàng Yến

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Gánh Mẹ/Ca sĩ Hồ Hoàng Yến 

Saturday, March 8, 2025

Tại Sao Nhiều Tỷ Phú Mỹ Đầu Tư Vốn Khủng vào Cảng Biển Việt Nam thành Số 1 Thế Giới.

Click Vào Đây - Tại Sao Nhiều Tỷ Phú Mỹ Đầu Tư Vốn Khủng vào Cảng Biển Việt Nam thành Số 1 Thế Giới.

Tuesday, March 4, 2025

Anh Còn Nợ Em – Lan Vy

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Anh Còn Nợ Em/Ca sĩ Lan Vy 

Friday, February 28, 2025

Phố Vắng Em Rồi - Mai Kiều

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Phố Vắng Em Rồi/Ca sĩ Mai Kiều 

Wednesday, February 26, 2025

Lửa Mùa Hạ - Trang Hạ

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Lửa Mùa Hạ/Ca sĩ Trang Hạ

Sunday, February 23, 2025

TÌNH CÂY VÀ ĐẤT - ĐẶNG KIM YẾN

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm TÌNH CÂY VÀ ĐẤT/Ca sĩ ĐẶNG KIM YẾN

Saturday, February 22, 2025

ĐAU KHỔ LÀ MỘT MẦU NHIỆM - BƯỦ UYỂN

ĐAU KHỔ LÀ MỘT MẦU NHIỆM

Năm 1993, khi mới đến Mỹ, gia đình chúng tôi đến  văn phòng Hội USCC San Diego để làm một số giấy tờ của người mới định cư. Trong khi đang chờ đợi bỗng có một nhân viên ở đó đưa cho tôi tờ nhắn tin như sau:

“Quí vị nào biết gia đình ông Bửu Uyển ở đâu, xin liên lạc  với:

Lê Văn Thành, điện thoại số 2514468353

Địa chỉ 428 E Church St., Atmore, AL 36502

Tôi vô cùng ngỡ ngàng và cảm động vì Thành là bạn thân của tôi từ lúc chúng tôi còn nhỏ.

Khi hoàn tất các giấy tờ ở Hội USCC, tôi vội vàng trở về nhà, gọi điện thoại ngay cho Thành. Ở đầu dây bên kia, giọng Thành cảm động:

-Cậu đó hả! Tạ ơn Chúa, tạ ơn Đức Mẹ, cuối cùng mình cũng gặp lại nhau.  Mình tìm kiếm cậu khắp nơi từ bao lâu nay.  Thế gia đình cậu qua Mỹ lúc nào vậy?

-Mình mới qua được 5 ngày.

-Được rồi, đọc lại số điện thoại của cậu  và cho mình địa chỉ, vợ chồng mình sẽ qua thăm cậu.

Một tuần sau, vợ chồng Thành qua San Diego thăm chúng tôi.  Thành ôm chầm lấy tôi, xúc động nói:

-Thật vui mừng được gặp lại cậu,  Trông chờ mãi, lắm lúc mình nghĩ có lẽ không bao giờ gặp lại nhau.  Cậu ốm qua, nhưng không sao, qua Mỹ một thời gian sẽ mập ra thôi.

Thành quay ra giới thiệu: “Đây là Thoa, vợ mình.”

Tôi hơi ngạc nhiên, Thành nói ngay:

-Đây là vợ sau của mình.  Câu chuyện dài dòng lắm, để lát nữa mình sẽ kể cho cậu nghe.

Tôi trò chuyện với Thành, còn Thoa vui vẻ chỉ dẫn cho vợ tôi một vài kinh nghiệm sống ở Mỹ.  Mới gặp nhau lần đầu nhưng Thoa và vợ tôi thân mật như đôi bạn quen nhau từ lâu.

Thành kéo tay tôi: “Để cho hai bà nói chuyện áo quần, bếp núc.  Tụi mình đi kiếm gì ăn, rồi mua về cho mấy cháu.”

Ngồi trong một tiệm ăn Việt Nam, khi chờ thức ăn mang lên, Thành nhìn qua cửa sổ, trầm buồn nói với tôi:

-“Anh nhớ không, từ nhỏ, tụi mình thân nhau như anh em ruột; cùng sinh hoạt Hùng Tâm, Dũng Chí ở Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Huế, cùng giúp lễ cho cha Đài, cha Ngà, cha Nghiễm, cha Phục.  Năm 1964, tôi bị động viên vào Thũ Đức, ra chuẩn úy, về phục vụ Sư đoàn 1. Năm 1968, tôi lập gia đình với Chi.  Hai năm sau, chúng tôi có con gái đầu long, là bé Oanh. Sau đó chúng tôi có thêm một cháu trai và một cháu gái nữa,

 

Giáo sứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Huế  

 

Ngày 30-4-1975 ập đến, như một cơn lốc cuồng loạn, thổi phăng hạnh phúc của gia đình chúng tôi.

Tôi quyết định không trình diện cải tạo, ở lang thang nay đây mai đó trong thành phố Đà Nẵng, hành nghề xe đạp ôm để phụ với vợ nuôi con.  Còn Chi thì mua bán áo quần cũ ở Chợ Cồn.  Vì cuộc sống vất vả, ăn uống thiếu thốn, lại lo buồn cho chồng, cho con, một năm sau, Chi nhuốm bệnh.

Không được bồi dưỡng, không thuốc thang, nên năm 1978, Chi qua đời.  Đám tang của Chi là một đám tang nghèo nàn, tẻ nhạt và cô đơn hơn  tất cả những đám tang trên thế gian này. Chồng của Chi là tôi, đi theo sau quan tài của vợ mà phải đi xa xa, sợ công an phát hiện. Nhìn 3 đứa con với vành khăn tang trên đầu, khóc lóc đi sau quan tài của mẹ, tôi muốn điên.”

Thành quá xúc động, lấy khăn tay lau nước mắt, rồi anh kể tiếp:

-Sau đó, 3 đứa con tôi được các Soeurs dòng Thánh Phao Lồ đem về nuôi như những trẻ mồ côi khác.

Buồn khổ quá, tôi thất thểu đạp xe vào nhà thờ Đà Nẵng, đi đến trước hang đá.  Tôi ngước lên nhìn tượng Đức Mẹ, bỗng nhiên nước mắt tôi chảy ra ràn rụa, tôi khóc; khóc thành tiếng, mặc cho người chung quanh nhìn tôi, tôi thấy lòng vơi bớt sầu khổ. Tôi lại nhìn lên tượng Đức Mẹ. Tôi nghe như Đức Mẹ an ủi tôi: “Hởi con, hãy can đảm lên, phấn đấu để sống cho con và các con của con; chúng rất cần sự yêu thương của con.  Con hãy trông cậy vào Chúa.  Chúa không bỏ con đâu".

Tôi như bừng tỉnh. Tôi tạ ơn Đức Mẹ.

Cuộc sống của tôi thật vô cùng khốn khổ nhưng ngày nào tôi cũng đến viếng Đức Mẹ và càu xin Đức Mẹ từ bi  nhơn hậu phù hộ, cứu giúp cho cha con chúng tôi.

Bỗng một hôm, mẹ vợ của tôi đến gặp tôi khi tôi đang đón khách ở chợ Cồn.  Bà hốt hoảng bảo tôi: Con nên rời khỏi đây ngay, họ đã biết có con ở đây.  Mấy hôm nay họ đã lùng sục ở mấy nhà quen rồi, hiện nhà mình bị canh chừng kỹ lắm.  Con nên đi vô Nam, trong đó đất rộng, người đông, không ai biết ai, dễ sống. Ba đứa nhỏ đã có các Soeurts và mẹ lo, con cứ yên tâm đi đi.

Tôi về ngay nhà trọ, lấy vội cặp áo quần cũ với vài vật dụng linh tinh, cho vào một giỏ đệm, treo lên ghi đông xe đạp, rồi đạp xe đi về hướng Nam.  Nghĩ lại, thật nực cười cho tôi vì tôi tính đi vào Sài Gòn bằng chiếc xe đạp cũ kỹ của mình.

Nhưng ngày qua ngày. Tôi đến Tam Kỳ, rồi Quảng Ngãi. Đi đến đâu, hành nghề xe đạp ôm đến đó để sống.

Tôi đi lần vào Nam. Hơn một tháng sau, tôi đến thị trấn Tam Quan, tình cờ khi tôi đang lân la ở bến xe để đón khách, tôi xin một xe chở hàng cho tôi đi quá giang vào Nha Trang.  Xe đến Nha Trang lúc 7,8 giờ tối gì đó.

 Tôi mua một ổ bánh mì, ăn vội, rồi lửng thửng đạp xe đi trong một thành phố hoàn toàn xa lạ đối với tôi.  Khi đi ngang qua một nhà thờ, tôi ghé vào nhưng nhà thờ đã đóng cửa, tôi đi ra hang đá ở cuối nhà thờ, quì xuống. Tôi lại khóc.  Không hiểu sao cứ mỗi lần nhìn tượng Đức Mẹ và cầu nguyện với Đức Mẹ là tôi khóc, khóc sướt mướt như một đứa trẻ làm nũng với Mẹ vậy.

 Trong hoàn cảnh tuyệt vọng của tôi, nếu không có trông cậy vào Đức Mẹ, chắc tôi không sống nỗi.

 Rời hang đá trong gia đình của những người con Đức Mẹ,tôi tiếp tục đạp xe đi lang thang trong thành phố Nha Trang đã lên đèn.

Quá mệt mõi và chán nản, tôi dừng xe trước  một căn nhà đã đóng cửa đi ngủ.  Nhà ấy có một mái hiên khá kín đáo, có thể giúp tôi ngủ qua đêm được.  Dựng xe đạp vào vách tường, tôi nằm lăn ra ngủ.  Đến quá nửa đêm , tôi giật mình thức giấc vì người trong nhà ấy đã thức dậy.  Tôi ngạc nhiên  vì trời còn tối (có lẽ khoảng 3,4 giờ sáng gì đó), họ thức dậy làm gì mà sớm vậy! Nhưng chỉ một lát sau, khi nhìn những túi xách nhỏ, gọn gang của họ; nhìn những gương mặt ngơ ngác, lo lắng, sợ sệt của những người trong gia đình …tôi hiểu ngay: họ đang chuẩn bị vượt biên.  Một người đàn ông ra mở cửa để đi, họ thấy tôi ngồi đó, ai cũng ngỡ ngàng , pha chút bối rối.  Tôi đánh bạo nói: Các bác đi đâu cho tôi theo với.

Người đàn ông quay nhìn vợ, ngần ngừ một lát rồi ông ta quyết định:

 

-Được rồi! Anh muốn đi, tôi cho đi, cùng sống cùng chết với nhau.

 Ngay lúc đó, một chiếc xe Lam 3 bánh dừng lại trước nhà, đưa gia đình ấy và tôi  đến một bãi biển khá xa thành phố. Mọi người lên một ghe nhỏ, chèo tay, đưa ra một ghe lớn đậu tít  ngoài khơi.  Trước lúc trời sáng, ghe nổ máy ra đi.  Người đàn ông chủ ghe tên Đông, giao cho tôi nhiệm vụ tát nước, khi dưới khoang thuyền có nước.  Khoảng 15 phút sau, ghe chạy đều đều trên biển, tôi làm dấu thánh giá và đọc kinh, tạ ơn Đức Mẹ. Tôi biết, tôi tin, chỉ có Đức mẹ mới sắp xếp được cho tôi  một chuyến vượt biên kỳ lạ như vậy.

 Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi được tàu kéo đến trại Palawan bình yên.  Ỡ trại một thời gian, tôi được IOM cho đi định cư ở Mỹ. Vì tôi không có thân nhân ở Mỹ nên Hội USCC đã nhờ Linh mục  Michael  ở Alabama bảo trợ cho tôi.  Cha Michael là cha xứ của Họ đạo "Our Lady of Perpetual  Help Church" ở thành phố Atmore.  Cha Michael  cho tôi làm công việc chăm sóc cây cảnh, vườn cỏ của giáo xứ với mức lương tôi không dám mơ ước: 600 đô la một tháng!  Mỗi tháng, tôi gởi một ít tiền về cho cơ sở  Dòng Thánh Phao Lồ ở Đà Nẵng để quí Soeurs lo cho các trẻ mồ côi, trong đó có 3 con của tôi.  Trong những ngày chăm sóc cây cảnh cho giáo xứ, tôi thấy một bé gái khoảng 9,10 tuổi thường đến xem tôi làm việc.  Thấy cháu bé có nét mặt người Việt Nam, tôi tò mò hỏi: cháu tên gì? Em bé ngạc nhiên, vui mừng nhìn tôi và hỏi lại : Bác là người Viêt Nam hả? Từ đó tôi có một người bạn nhỏ và duy nhất  vì trong giáo xứ toàn người Mỹ.  Tên của cháu bé là Kathrine.

 Giáo xứ có một nhà kho khá rộng, cha Michael sơn quét sạch sẽ rồi cho tôi làm chỗ ở. Mùa đông 1981 tôi bị cảm cúm nặng, nằm liệt giường. Một hôm, tôi thấy  bé Kathrine đi thơ thẩn  ngoài vườn hoa của giáo xứ, có lẽ cháu đi tìm tôi. Tôi cố gắng ngồi dậy, mở cửa gọi cháu. Kathrine chạy đến, thấy tôi tiều tụy xanh xao, bé ôm lấy tôi và khóc rưng rức. Tôi kể cho bé Kathrine, tôi bị cảm cúm mấy hôm nay, nhưng không biết nhờ ai đi bác sĩ. Bé Kathrine chạy vội về nhà, một lát sau trở lại với một bà đứng tuổi, tôi đoán là mẹ của cháu. Vừa gặp tôi, bà ấy nói ngay: Bác là bác Thành phải không? Tôi thường nghe con gái tôi nói về bác, cháu nó mến bác lắm. Cháu vừa cho biết bác bị cảm cúm mà không ai đưa đi bác sĩ. Tôi là người đồng hương với bác, để tôi giúp bác.

Từ đó, tôi có thêm một người bạn, ngoài cháu Kathrine. Bà ấy tên là Thoa. Năm 1969, bà ấy kết hôn với một sĩ quan Không quân Mỹ ở Biên Hòa. Năm 1971, bà theo chồng về Mỹ.  Không may cho gia đình ấy, năm 1976, chồng bà qua đời vì một tai nạn xe cộ.

Ngừng một lát, Thành kể tiếp:

 Biết được hoàn cảnh của cha con tôi, bà ấy thường gởi tiền vè nuôi các con của tôi.  trước các dịp lễ lớn, như Noel, Tết…, bà gởi  về cho các con tôi những thùng quà rất giá trị . Quí Soeurs ở Việt Nam thường gởi thư qua cảm ơn vì quà của bà gởi về, ngoài 3 con của tôi đươc hưởng, Soeurs còn phân phát cho các em khác nữa. Tôi mang ơn bà ấy. Tôi còn nhớ, trong một party của giáo xứ nhân ngày đầu năm, Cha Michael gặp chúng tôi, nửa đùa nửa thật, cha nói với chúng tôi: Có gì ngăn trở đâu, sao ông bà không kết hôn với nhau?! Tôi nhìn bà ấy, bà mỉm cười.  Sau khi chúng tôi kết hôn với nhau, Thoa làm đơn bảo lãnh 3 con của tôi qua Mỹ.  Vì Thoa có quốc tịch Mỹ, lại có đầy đủ tài chánh nên chỉ một thời gian ngắn, cả 3 con của tôi đã đoàn tụ với tôi ở Mỹ. Việc đoàn tụ một cách lạ lùng của 3 cha con chúng tôi làm cho tôi tin rằng: Không có việc gì mà Đức Mẹ không làm được, nếu ta thành khẩn kêu xin.

Tôi nhớ lại ngày xưa, Cha Ngà (Dòng Chúa Cứu Thế) thường giảng rằng;  Đau khổ là một mầu nhiệm.  Lúc ấy, tôi không hiểu Ngài muốn dạy điều gì.  Nhưng sau mấy chục năm gian khổ của cuộc sống, với ơn Chúa giúp, với sự phù hộ của Đức Mẹ, tôi đã có thể chịu đựng và vượt qua mọi đau khổ, nhờ vậy, tôi thấy mình lớn lên trong đức tin, bền đỗ trong đức cậy và dạt dào lòng yêu mến Chúa.

Tôi cũng bắt đầu cảm nhận rằng: Lòng Mẹ Maria yêu thương tôi không những chỉ là những hồng ân tốt đẹp mà Mẹ đã ban cho tôi, mà ngay cả những đau khổ, khốn khó tôi đã gánh chịu, cũng nói lên lòng Đức Mẹ  yêu thương tôi biết dường nào!

“Xin tạ ơn Chúa, tạ ơn Đức Mẹ.”

 

BƯỦ UYỂN

Monday, February 17, 2025

Kỷ Niệm Ngày Nhập Ngũ - Thu Hường

  Click Vào Đây - Nhạc phẩm Kỷ Niệm Ngày Nhập Ngũ - Thu Hường

Thursday, February 13, 2025

Thơ Tình Cuối Mùa Thu - Lê Thu Uyên

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Thơ Tình Cuối Mùa Thu - Lê Thu Uyên

Saturday, February 8, 2025

Tôi đã gặp lại hắn, sau hơn 20 năm. - Nguyễn Đình Liên


Tôi đã gặp lại hắn, sau hơn 20 năm.


Một sự tình cờ, tôi đã gặp lại hắn, sau hơn 20 năm, kể từ lúc cả hai cùng được thả ra, vào một ngày đầu Tháng Năm, 1981, từ trại tù Bình Điền, Thừa Thiên Huế. Tôi biết hắn từ trước năm 1975 không những vì cả hai cùng học một lớp bậc trung học, cùng một khóa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, thậm chí, sau đó lại về cùng một đơn vị. Trước ngày mất nước năm tháng, hắn lấy vợ. Vợ hắn, tên là Hạ, đúng là một cô giáo hiền thục, đoan trang và thương chồng theo cách tăn măn tỉ mỉ của những cô gái Huế (thời trước.)

Rồi trôi theo vận nước, tôi đi với hắn vào cùng một trại tù và thật kỳ lạ, sáu năm sau lại cùng với hắn ra khỏi trại. Trong khoảng thời gian ở tù này và nhất là sau khi cùng được thả ra về sống tại địa phương. Tôi mới biết được và hết sức khâm phục lòng hy sinh và sự chịu đựng của vợ hắn…

Khi cuộc đời nhà binh của hắn và kể cả tôi nữa kết thúc tại bãi biển Thuận An, Huế vào ngày 26 Tháng Ba, 1975. Chúng tôi bị lùa lên trại tù Khe Sanh, rồi về Cồn Tiên, hắn hay chắt lưỡi với tôi: Trời hỡi!! vậy mà cũng còn may. Tôi hỏi thì hắn trả lời: May là vì hai vợ chồng tôi chưa có con, không bị ràng buộc chi hết, nàng có thể tự do đi lấy chồng khác, chớ đeo theo mình, cái thằng tù chung thân khổ sai này làm cái chi?!

Tại trại tù Cồn Tiên (Tỉnh Quảng Trị) lần thăm nuôi đầu tiên, vợ hắn lên thăm. Hắn nói ngay với với nàng: Thôi đến mức ni là đủ rồi, em còn trẻ, chưa có con, anh cho phép em ly dị anh, rồi về mà kiếm một thằng chồng khác, chớ đeo theo anh làm cái chi nữa, lấy ai cũng được, miễn răng em hạnh phúc là anh mừng rồi. Vợ hắn im lặng không nói. Ba tháng sau, về trại Ái Tử (Đồng Hà) lại thấy nàng tay xách nách mang giỏ lớn, giỏ nhỏ lên thăm. Hắn lại khuyên nàng như lần trước, thì bị nàng nạt: Đừng có giở trò cao thượng với tui, tui là vợ anh thì đến chết tui vẫn là vợ anh, đừng có nói ba xàm ba láp. Đến đây thì hắn tắt đài không dám hó hé thêm một tiếng. Vì chuyện này tôi không biết hắn vui hay là buồn, vui cũng đúng thôi vì thời buổi này có được một người chung tình như vợ hắn thì cũng đáng vui, nhưng buồn như trường hợp hắn lại cũng đúng. Buồn vì tội nghiệp cho cô vợ trẻ không biết có mắc nợ nần chi từ đời kiếp nào mà bây giờ phải đeo theo mà trả.

Sau này khi được phóng thích về địa phương, nghe thuật lại thì ra vợ hắn đã bỏ nghề giáo từ lâu, để lăn lưng ra chợ trời, buôn thúng bán bưng mà kiếm từng đồng bạc lên thăm nuôi anh chồng đang sa cơ thất thế.

Lại nghe nói trước đó có anh trưởng Ban Thuế Vụ tỉnh đeo theo nàng như đỉa nhưng luôn luôn bị nàng quyết liệt từ chối. Trước ngày đi vùng kinh tế mới trong Nam, tôi nói với hắn: Ông có phước lắm mới có được người vợ như rứa, ráng mà sống với nhau trọn đời. Hắn trả lời: Mẹ tôi sinh ra tôi làm người còn vợ tôi mới là người mở mắt cho tôi biết cái gì gọi tấm lòng cao thượng.

Khoảng vài năm sau thì nghe nói hai vợ chồng hắn đã lên tàu vượt biên.

Nghe tin này tôi cầu mong hai vợ chồng hắn đi đến nơi đến chốn bình yên và mãi mãi hạnh phúc bên nhau.

Mười năm sau, gia đình tôi đi Mỹ theo diện H.O. Qua Mỹ, tôi ra sức tìm kiếm hai vợ chồng hắn. Và qua nhiều người bạn tôi nghe tin hắn đang sinh sống tại một tiểu bang miền Đông và cũng nghe nhiều chuyện về hắn. Nhưng mãi đến hơn hai chục năm sau, tình cờ, tôi mới có dịp gặp lại người bạn cũ này.

Đó là một đêm Giao Thừa âm lịch tại thành phố Salt Lake City, tiểu bang Utah. Ngoài trời tuyết rơi trắng xóa. Trong một căn chung cư ẩm thấp nghèo nàn ở vùng North Salt Lake. Ngồi trước mặt tôi là một người đàn ông ốm yếu, đầu tóc bạc trắng, nhìn tôi qua cặp mắt ủ rủ, chính là hắn.

Tôi hỏi hắn:

Chuyện gì đã xảy ra? ông có nhớ tôi đã từng nói với ông là hãy sống hạnh phúc với Hạ và hãy biết quý trọng tấm lòng cao thượng của nàng.

Hắn nhìn tôi, với ánh mắt sáng lên chút diễu cợt, rồi biến mất, chỉ còn hai bên khóe mắt của hắn tôi nhìn thấy những vết hằn buồn rầu ai oán.

Đúng rồi, chính cái tấm lòng cao thượng hay là sự hy sinh cao cả đó nhưng than ôi, kết quả mà nó mang lại là tất cả những gì anh đang thấy đây…

Hắn bắt đầu câu chuyện.

Chiếc thuyền mỏng manh chở khoảng 150 người rời khỏi Lăng Cô nhắm hướng hải phận quốc tế, vào cái ngày định mệnh đó. Chỉ 4 tiếng đồng hồ sau thì nó vỡ tan ra từng mảnh. Khi tôi tỉnh dậy thì thấy đang nằm trên một tàu hàng Nam Dương. Trong số 150 người trong đêm đen bão táp, chỉ có chừng vài mạng được vớt lên, còn hầu hết đều mất tích, vợ tôi nằm trong số người mất tích đó. Thì anh cũng biết, trên biển cả mênh mông mất tích là đồng nghĩa với cái chết. Vì thế, anh hiểu là tôi đau khổ đến mức nào không??? Vợ tôi đã hy sinh hết mọi thứ, kể cả tuổi xuân của nàng chỉ vì nàng yêu tôi. Vậy mà tôi chưa kịp đền đáp mang lại cho nàng sự hạnh phúc, chỉ còn vài bước nữa là đến bến bờ tự do thì nàng đã vĩnh viễn chìm sâu dưới lòng đại dương. Nỗi mất mát lớn lao này đã cào xé, dằn vặt tôi, tạo nên một cơn hoảng loạn dai dẳng đến nỗi người ta phải đem tôi vào bệnh viện. Tôi nằm trong một bệnh viện tâm thần, hay nói cho đúng đó là nhà thương điên trong vòng một tháng trời, và ở trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh, nửa điên nửa khùng. Trầm trọng đến nỗi ai cũng nghĩ chỉ còn nước ngồi chờ đến giờ đem tôi đi chôn.

Nhưng rồi như một định mệnh đã được an bài, một ngày kia, tôi bỗng tỉnh dậy và thấy một cô gái người Việt đang đứng nhìn tôi ở đầu giường. Hỏi ra, mới biết, đó là một cô gái sống tại Mỹ và làm trong một cơ quan thiện nguyện chuyên giúp đỡ những người tị nạn. Hiểu được và thông cảm nguyên nhân căn bệnh của tôi, cô gái tên là Huyền, đã tình nguyện chăm sóc cho tôi và dần dần đem tôi lên từ dưới đáy sâu của cơn khủng hoảng tuyệt vọng để hồi sinh trở thành một người bình thường. Rồi cũng dần dần cả hai chúng tôi trở thành hai người bạn thân lúc nào cũng không hay. Huyền chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, không đẹp, nhưng đằm thắm, dịu dàng. Nàng đã có một đời chồng, và chính điều này cũng là một tâm sự buồn mà có vài lần nàng đã bộc lộ cho tôi biết.

Nhưng nàng nói cũng nhờ sự bộc lộ đó mà nàng luôn luôn giữ được trạng thái cân bằng trong tâm lý. Tôi cũng kể cho nàng thêm những chi tiết về Hạ người vợ xấu số của tôi, về cái tình yêu và sự hy sinh của nàng dành cho tôi. Tôi nói với Huyền:

Suốt đời có lẽ không bao giờ tôi quên được vợ tôi.

Huyền nói:

Đừng bao giờ quên cô ấy vì chính lúc anh nghĩ về cô ấy là chính lúc anh tự cảm thấy an ủi được rất nhiều. Nhưng anh cũng nên nhớ, anh cũng cần nghĩ về anh nữa, bởi anh cũng cần phải sống và biết cách sống nữa chứ.

Phải nói tôi cám ơn Huyền rất nhiều về những gì mà nàng đã làm cho tôi trong thời gian vừa qua và khi nhìn vào đôi mắt đằm thắm của nàng tôi chợt nghĩ biết đâu hương hồn vợ tôi đã phù hộ cho tôi gặp được cô gái này cũng nên? Hóa ra trong cuộc sống trước mắt, tôi đang có hai người đàn bà ở bên cạnh, một người ở quá khứ và một người đang sống ở hiện tại. Họ đã tạo cho tôi một thế cân bằng trong tâm lý và giúp tôi dần dần vượt qua được trạng thái hụt hẫng đau đớn trước kia.

Chừng vài tháng sau, cũng nhờ sự giúp đỡ bảo trợ của Huyền, tôi đã được phái đoàn phỏng vấn chấp thuận cho định cư tại Mỹ. Lúc đó tôi về một tiểu bang miền Đông với Huyền, và theo lời khuyên của nàng tôi ghi danh đi học, bắt đầu từ các lớp ESL, rồi qua college, sau đó lên đại học. Trong thời gian đi học tôi và nàng thuê chung một căn apartment hai phòng (dĩ nhiên). Tôi đi học ban ngày, cuối tuần đi làm thêm kiếm tiền phụ giúp một phần trả tiền ăn ở. Còn nàng thì đi làm ca đêm. Cũng nên nói thêm, chúng tôi luôn luôn coi nhau như là bạn, tôn trọng nhau, đối xử với nhau một cách vui vẻ và chân thật. Tôi ráng sức học và hiểu rằng đó là cách để khỏi phụ lòng người đã giúp đỡ tôi đến nơi đến chốn. Tôi cũng hiểu rằng, nàng cũng đang ráng sức đi làm để tạo điều kiện dễ dàng trong việc học của tôi. Nghĩ lại, mới thấy cả hai chúng tôi đều ráng sức và cũng vì nhau mà ráng sức. Phải chăng chúng tôi đang làm một việc mà chỉ có hai người đang yêu nhau mới làm?

Trong đời tôi, định mệnh đã cướp đi của tôi một cơ hội là mang lại hạnh phúc cho người đã từng hy sinh cho mình, đó là Hạ. Lần này tôi không muốn mình vuột đi một cơ hội tương tự như vậy. Tôi quyết định chọn một ngày quan trọng nhất để tôi ngỏ lời cầu hôn với Huyền. Ngày đó cũng là ngày tôi tốt nghiệp với mảnh bằng kỹ sư công chánh.

Rồi cái ngày đó đã tới.

Buổi trưa sau khi làm lễ tốt nghiệp xong cả hai chúng tôi về nhà. Chúng tôi quyết định cùng nấu chung một vài món để ăn mừng và đó cũng là một cơ hội để tôi nói lời tình yêu với Huyền. Tôi nghĩ không có một cơ hội nào tốt hơn là cơ hội này. Tôi đang lau chén đũa và trải khăn bàn trong lúc chờ nàng chạy ra cái chợ ở đầu phố nói là mua thêm ít rau, và vừa lẩm bẩm trong miệng câu nói mà tôi chờ đợi được nói suốt cả năm trời nay. Đúng lúc thì có tiếng chuông cửa. Một người đi bỏ báo đứng chờ ở ngoài, đưa cho tôi một lá thư nhỏ, nói: Phải anh là anh Tiến không? Có một người ở đằng kia nhờ tôi trao cho anh tờ giấy này.

Tờ giấy nhỏ bằng bàn tay, chữ viết tròn trịa quen thuộc.

Anh Tiến, Em là HẠ đây, em vẫn còn sống đây, nhưng chuyện dài dòng lắm, em thì không tiện vào nhà. Qua gặp em trong cái công viên phía bên kia đường.

Tôi không còn nhớ lúc đó tâm thần tôi hoảng loạn đến mức độ nào. Tôi cũng không biết mình nên làm gì nữa. Giá lúc đó mà động đất xảy ra hay núi lửa phun lên, sóng thần tràn vào tôi cũng không cần biết. Tâm trạng hoảng loạn này có lẽ cũng lớn ngang với lúc tôi tỉnh dậy trên chiếc tàu hàng Nam Dương và biết người vợ mình đã bị nhận chìm giữa lòng đại dương cách đây 7, 8 năm về trước. Nhưng rồi như cái máy tôi bước ra cửa lảo đảo băng qua bên kia đường.

Tôi nhận ra nàng ngay. Chính là Hạ. Vợ tôi, nàng không khác mấy như tôi gặp nhiều lần trong những giấc mơ trước kia. Nhưng bây giờ không phải là trong giấc mơ mà bằng xương thịt nàng, hiện ra dưới ánh nắng buổi trưa với làn da có vẻ xanh xao hơn và đôi mắt buồn rầu. Cơn xúc động đến nỗi tôi muốn ôm chầm lấy nàng. Nhưng nàng ngăn tôi lại rồi hấp tấp nói.

Anh Tiến, em không còn nhiều thì giờ nữa vì trong vòng một tiếng nữa em sẽ rời nước Mỹ trở về lại Úc.

Tôi nhìn thấy nàng cười nhưng nước mắt thì ràn rụa trên má.

Anh biết không, khi em trôi dạt trên biển và được một thương thuyền Úc vớt lên, đem về Úc. Lúc đó em vẫn tin rằng chỉ có em là người duy nhất sống sót trên chiếc tàu định mệnh đó. Mãi vài năm sau thì có người liên lạc với em và cho biết anh vẫn còn sống. Anh biết là ai không?

NGƯỜI ĐÓ LÀ CÔ HUYỀN. Chính cô Huyền đã bỏ rất nhiều công sức để truy tìm em trên khắp các trại tị nạn, trong một hy vọng là em còn sống. Và thật không uổng công cho cô ấy. Huyền đã tìm ra em. Cô ấy đã liên lạc với em nhiều lần, kể hết mọi chuyện về anh và nói với em rằng sẽ tạo điều kiện cho hai người gặp nhau nhưng phải chờ anh tốt nghiệp xong. Hai ngày trước cô Huyền mua vé cho em từ Úc bay qua đây và hẹn em đúng giờ này đến ăn cơm chung để mừng anh và em. Nhưng ngồi trên máy bay em đã nghĩ lại rồi. Chính cô Huyền mới là người xứng đáng với anh, cô Huyền là người đã cứu anh ra khỏi cơn khủng hoảng tâm thần, đưa anh qua Mỹ và tạo điều kiện cho anh ăn học thành tài. Anh nên nhớ, nếu không nhờ cô ấy, chắc gì anh còn sống được đến ngày hôm nay. Hồi sáng em đứng ở đây nhìn anh và cô Huyền bước xuống xe, nhìn trong mắt anh lúc đó, anh hiểu không, em là đàn bà mà, em biết liền, trong đôi mắt anh lúc đó đang tràn trề sự hạnh phúc của một người đang yêu. Cô Huyền mới xứng đáng là người được anh trao cái hạnh phúc đó. Cô ấy đã hy sinh cho anh nhiều rồi. Đừng nên để cô ấy hy sinh thêm nữa, vì hơn ai hết chính em biết cô Huyền cũng đang yêu anh. Và em cũng yêu anh dường nào.

Tôi không hiểu Hạ bỏ đi từ lúc nào. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đá bên cạnh, đầu óc vẫn còn choáng váng những lời nói của Hạ hồi nãy. Thật sự đến lúc này tôi vẫn không biết mình nên nghiêng về bên nào. Trời đất ơi! Tôi không ngờ Huyền là người đã âm thầm đi tìm Hạ thay cho tôi. Tôi đã mang ơn nàng nhiều quá, và không biết bằng cách nào để trả được cái ơn đó, trừ phi. Nhưng chỉ có Hạ là người biết được điều khó xử này của chồng mình. Cô ấy đã có một quyết định cũng giống như cái quyết định cách đây chục năm về trước, khi thả nổi đời xuân xanh của mình để đi nuôi một thằng tù không biết ngày nào mới được tha ra. Đó là người đàn bà suốt đời hy sinh cho hạnh phúc của chồng.

Và, trời ơi, Anh biết không. Đó là định mệnh, lại một định mệnh cay nghiệt. Nó vẫn không buông tha cho tôi. Tôi nhận ra ngay khi vừa bước chân vào nhà. Căn nhà vẫn trống rỗng y chang như lúc tôi bước ra.

Hạ đã lầm!

Tôi cũng lầm!

Làm gì có chuyện Huyền mời Hạ đến để ĂN CHUNG với CÔ ẤY bữa cơm mừng ngày tái ngộ.

Làm gì có chuyện Huyền chạy ra chợ mua thêm ít rau.

TẤT CẢ CHỈ LÀ CÁI CỚ.

Tôi đi ngay vào trong phòng nàng. Và tìm thấy một lá thư trên bàn. Chỉ có vài dòng run rẩy:

Chúc mừng hai người tìm lại được hạnh phúc bên nhau

Đừng bao giờ tìm em nữa

Huyền

Những dòng chữ còn ướt đẫm nước mắt của nàng.

Tôi lịm người đi giữa câu chuyện mà Tiến đang kể, giọng kể của hắn nghe đều đều như lời cầu nguyện, đầy cam phận cho một tên tử tù trên đường ra pháp trường.

Một lúc sau đó tôi mới hỏi hắn, một câu thiệt vô duyên:

Sao ông không đi tìm họ???

Theo anh thì tôi nên tìm ai? Nhưng định mệnh không cho tôi làm việc đó. Hai người đàn bà này, người nào cũng cho rằng tôi đang sống trong hạnh phúc với người kia. Hãy để cho họ tin như vậy đi, đừng bao giờ làm họ thất vọng. Đó cũng là một cách trả ơn những sự hy sinh đó.

Chính vì thế tôi bỏ hết tất cả và đến đây – một mình – trong cái xó này.

Salt Lake City-Utah

Nguyễn Đình Liên

Share Lại Quê Mẹ

Tuesday, February 4, 2025

Cập nhật giá ngoại tệ.

Tôi mới thêm mục "Cập Nhật Giá Ngoại Tệ" ở cột bên trái. Ai muốn mua bán ngoại tệ, thì click vào đó mà xem giá cả. tth

Về Với Ngày Xưa - Lê Thu Uyên

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Về Với Ngày Xưa/Ca sĩ Lê Thu Uyên

Saturday, February 1, 2025

Tết Ất Tỵ 2025 tại Sàigòn.

  


Mùng 2 Tết Ất Tỵ 2025, anh Alain Tấn chủ khách sạn mà tôi đang ở tại Sàigòn, mời tôi ra nhà anh ăn Tân Niên.
Ngồi đầu bàn là anh Tấn và tôi. Bên trái từ ngoài vô, người thứ 2 kế bà áo đỏ là chị Tấn. Các người kia là bạn anh chị Tấn.
  

Ngồi giữa là vợ chồngKhải, con trai anh chị Tấn. Người đứng là Bảo, quản lý của anh chị Tấn.
./.