Thiếu nữ Việt Nam

Thiếu nữ Việt Nam
quá dễ thương

Friday, May 19, 2023

Xa Quê - Hồ Phương Liên

Click Vào Đây - Nhạc phẩm Xa Quê/Ca sĩ Hồ Phương Liên

Thursday, May 18, 2023

Ngoan hiền không cãi lại một câu

 


Thông tin gây sốt: Tập đoàn Tỷ phú Elon Musk đã phát triển một robot nữ "Catwoman" (mèo con yêu). Robot nữ đa năng sẽ được sản xuất hàng loạt và tung ra thị trường trong vòng 3 - 5 năm tới với giá khoảng chừng 20.000 USD.

Cô em (Catwomen) luôn luôn xinh đẹp trẻ trung gợi cảm không già theo thời gian, biết nấu ăn, biết tâm sự chia sẽ cảm xúc lúc bạn vui buồn, không cãi vã, không đòi ly hôn, không đòi Sex, đặc biệt không tham lam đòi chia tài sản và tuyệt vời hơn nữa là có thể sinh con khi bạn muốn...

Chúc mọi người cuối tuần vui vẻ!

Sunday, May 14, 2023

Anh Ngủ Thêm Đi - Tâm Đoan

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Anh Ngủ Thêm Đi/ Ca sĩTâm Đoan

Tuesday, May 9, 2023

Warren Buffet so sánh AI (trí tuệ nhân tạo) với bom nguyên tử.

AI (trí tuệ nhân tạo) gây chấn động thế giới gần đây. Những nhà bác học thông minh nhất thế giới hiện đại cũng đang lo sợ! Chính tôi thấy trong mạng, ChatGPT (trí tuệ nhân tạo) chỉ cần nghe một tiếng nói của con bạn, chỉ cần nhìn một hình và giọng điệu của con bạn trong Youtube là nó có thể tạo ra hình ảnh giọng điêu của con bạn giống y 100%. Rồi kẻ gian dùng ChatGPT làm tiền.

Họ làm tiền bằng cách gọi cho bạn, rằng con bạn gây tai nạn chết người, đang ở tù và cần tiền để đóng bond để ra tù. Để cho bạn tin, họ đưa điện thoại có camera cho bạn nói chuyện với con bạn. Trời! Chính gương mặt con bạn, chính giọng điệu của con bạn, đang thành khẩn xin tiền bạn để ra tù. Đó là chính hình ảnh giọng điệu con mình, thì bạn còn chờ gì nữa mà không chuyển tiền. Có rất nhiều người chuyển tiền rồi. 

Có một cặp vợ chồng già Mỹ trắng, được điện thoại báo, rằng cháu của ông bà đang ở tù vì gây tai nạn chết người, và cần $20000 USD để đóng bond. Rồi họ đưa điện thoại có camera cho ông bà. Ông bà thấy đúng là cháu mình đang nói chuyện qua điện thoại và thành khẩn xin tiền đóng bond. Ông bà lật đật cúp điện thoại và đi rút tiền.

Tại nhà bank, ông bà rút được $2500 USD thôi. Vì khi mở account ông bà đã giới hạn như vậy. Ông bà vô than vãn với ông giám đốc nhà bank, với hy vọng ông giám đốc sẽ cho rút đủ $20000. Ông giám đốc nói, rằng gần đây có nhiều vụ làm tiền như vậy. Ông giám đốc bảo ông bà gọi cho cháu liền. Ông bà gọi cho cháu, thì thằng cháu trả lời và nói nó đâu có bị ở tù!  

Kết luận: Nếu ai có điện thoại yêu cầu chuyển tiền tương tự như câu chuyện trên, thì không nên trả lời điện thoại vì họ sẽ lấy được giọng nói của bạn. Bạn cúp điện thoại và gọi ngay cho người thân xin tiền. Vì điện thoại của người thân, không có gài ChatGPT nên họ không làm giả được.

Đó là chuyện làm tiền vụn vặt thôi! Nếu kẻ gian dùng ChatGPT trong quân sự thì tai hại cỡ nào! Rõ ràng hình ãnh và giọng điệu của Tướng Tư Lệnh Liên Quân ra lịnh khai hoả hoả tiễn nguyên tử, thì thuộc hạ làm sao đây! Đây là hành động chết sống, không thể chần chờ! Dễ sợ quá! tth    

  

Sau đây là tin từ Newsmax, tôi chuyển ngữ sang tiếng Việt:


Giám đốc điều hành Berkshire Hathaway Warren Buffett đã bày tỏ mối quan ngại của mình về trí tuệ nhân tạo, so sánh nó với việc tạo ra bom nguyên tử, tờ New York Post đưa tin .


“Khi một thứ gì đó có thể làm được mọi thứ, tôi có một chút lo lắng,” Buffett nói tại cuộc họp cổ đông thường niên của công ty hôm thứ Bảy. “Bởi vì tôi biết chúng ta sẽ không thể bỏ phát minh ra nó và, bạn biết đấy, chúng ta đã phát minh ra, vì một lý do rất, rất chính đáng, bom nguyên tử trong Thế chiến thứ hai.”

“Việc chúng tôi làm như vậy là vô cùng quan trọng,” Buffett tiếp tục. “Nhưng liệu có tốt cho 200 năm tới của thế giới khi khả năng làm như vậy đã được giải phóng?”

Buffett, người đã được người sáng lập Microsoft Bill Gates giới thiệu tóm tắt về ChatGPT AI của OpenAI, cho biết ông rất ấn tượng với một số khả năng của AI. Điều đó bao gồm khả năng kiểm tra tất cả các ý kiến ​​pháp lý “kể từ đầu,” ông nói.

Charlie Munger, Phó chủ tịch Berkshire Hathaway của 'Trí thông minh kiểu cũ'

nói thêm: “Cá nhân tôi hoài nghi về một số lời quảng cáo thổi phồng về trí tuệ nhân tạo. Tôi nghĩ trí thông minh kiểu cũ hoạt động khá tốt.”

Buffett tin rằng trí tuệ nhân tạo sẽ “thay đổi mọi thứ trên thế giới, ngoại trừ cách con người suy nghĩ và hành xử—và đó là một bước tiến lớn cần thực hiện.”

Nhận xét của Buffett và Munger được đưa ra sau một bức thư có chữ ký của 1.600 nhà nghiên cứu, chuyên gia công nghệ và CEO, bao gồm cả Elon Musk, cảnh báo về những mối nguy hiểm có thể xảy ra đối với nhân loại bởi AI. Họ kêu gọi tạm dừng phát triển AI trong sáu tháng.

“Các hệ thống AI mạnh mẽ chỉ nên được phát triển khi chúng tôi tin tưởng rằng tác động của chúng sẽ tích cực và rủi ro của chúng sẽ có thể kiểm soát được,” bức thư viết.



Saturday, May 6, 2023

Lễ đăng quang vua nước Anh "King Charles III"

Sáng hôm nay, tôi cảm thấy may mắn được xem lễ đăng quang vua nước Anh trực tiếp qua mạng.

Click Vào Đây - Xem lễ đang quang King Charles III.

Friday, May 5, 2023

Cáo Phó của gia đình KQ63D Vũ Ngô Dzũng

 

Cáo Phó


Bà quả phụ Vũ Ngô Dzũng 

nhũ danh LanNha Ha Vu

Sinh ngày February 9, 1944 từ trần ngày April 26, 2023

tại Alamada California, hưởng thọ 79 tuổi.

Vì anh Vũ Ngô Dzũng mất ngày October 14, 2021,

nên sau đây là cáo phó của các cháu viết bằng tiếng Mỹ:




Lannha Ha Vu

February 9, 1944 ~ April 26, 2023 (age 79)

Tribute

Lannha Vu, 79, of Alameda, passed away peacefully on April 26, 2023 with her family by her side. She was born to the late Ha Ngoc Hoan and Dinh Thi Chu on February 9, 1944. She was fourth in a family of five children. The family was originally from Hanoi, Vietnam and moved to Saigon in 1954. Lannha studied law at the University of Saigon Faculty of Law. She graduated with a Bachelor of Law in 1965. 

After graduation, Lannha decided against becoming a lawyer. She obtained a job at Bank of America. Her position at Bank of America helped her family immigrate to the United States in 1975. Lannha spent her entire career in banking, focusing specifically on foreign exchange. In addition to employment at Bank of America, she also worked  at Westpac Banking and Bank of California. 

Lannha’s greatest joy was time spent with her family and friends. She always accompanied her husband to functions related to the Vietnamese Air Force. She enjoyed numerous meals with friends. During basketball season, you would almost always find her sitting in front of the television watching the Golden State Warriors and cheering on her favorite player, Klay Thompson.

Lannha married the late Joseph Dung Ngo Vu in 1969.  After fleeing Vietnam, the family first moved to Oakland, CA before settling in Alameda for the past 48 years. She was predeceased by her loving husband of 52 years in 2021. Lannha  is survived by her two children: Mai Bishop (John) of Baton Rouge, LA, John Vu (Liz) of Alameda, CA, and her two grandchildren, Sarah and Jonah Bishop of Baton Rouge, LA. She is also survived by her brother, Ha Ngoc Thuan (Hoang-Nga) of Brisbane, Australia in addition to a host of family and friends. 

Our family would like to thank Crossroads Hospice, especially Linda and Juliana, for their amazing care of our mother. They treated her with dignity throughout the journey of her illness. Our family will always be eternally grateful for their kindness.

Family and friends are invited to attend the services in honor of Lannha at St. Albert the great Catholic Church on Friday, May 26, 2023. Visitation will be held from 9:30 a.m. to 10:30 a.m. with the funeral mass at 11:00 a.m.

VISITATION

Friday
May 26, 2023

9:30 AM to 10:30 AM
St. Albert the Great
1022 Holly Street
Alameda, CA 94502

FUNERAL MASS

Friday
May 26, 2023

11:00 AM
St. Albert the Great
1022 Holly Street
Alameda, CA 94502

Thành Kính Phân Ưu
Khoá 63D SVSQ Không Quân

Anh chị tham dự tang lễ chị Vũ Ngô Dzũng.
Từ trái qua: Anh Vũ Công Hiệp, anh chị Nguyễn Đức Minh,
chị Nguyễn Công Bắc và bạn mới của chị Bắc, anh Phan Văn Dũng.
 

Chia Buồn

Toàn thể anh chị KQ63D thành tâm chia buồn cùng các cháu con của anh chị Vũ Ngô Dzũng cùng tang quyến. Kính cẩn cầu nguyện cho linh hồn chị LanNha Ha Vu sớm về với Chúa.

Toàn thể anh chị KQ63D
 

Monday, May 1, 2023

Thursday, April 27, 2023

Một Chuyến Bay Đêm - Đam San

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Một Chuyến Bay Đêm/Ca sĩ Đam San 

Sunday, April 23, 2023

ĐÔI MẮT PHƯỢNG - Nguyễn Đạt Thịnh

ĐÔI MẮT PHƯỢNG

Tôi là 1 quân y sĩ ra trường năm 1974, đơn vị đầu tiên, cũng là đơn vị cuối cùng của tôi, là một tiểu đoàn Nhảy Dù. (Xin bạn đọc cho phép tôi được bất chấp văn phạm, viết hoa 2 chữ “Nhảy Dù”, vì đó là những chữ tôi thương yêu nhất.)

Tôi lập gia đình năm 22 tuổi, ngày còn là 1 sinh viên quân y. Mẹ tôi bảo “chờ ra trường, có việc làm, có lương nuôi vợ, rồi hẵng cưới vợ.” Tôi biết mẹ tôi có lý, nhưng tình yêu cũng không vô lý. Tình yêu thúc dục tôi cưới Phượng ngay. Nàng quá đẹp! Thằng Quỳnh, thằng Khương, thằng Ðịnh, những đứa bạn cùng lớp bảo tôi, “Phượng đẹp ngây ngất.” Phượng là nữ sinh đệ nhất Trưng Vương; nàng cũng yêu tôi nhưng xin 1 năm đính hôn để học hết trung học. Tôi chờ, 1 năm dài được chia thành 52 tuần lễ ngắn hơn, đánh dấu bằng 52 ngày chủ nhật chúng tôi gặp nhau. Không phải là 1 nhà văn, tôi không mô tả được nét đẹp của Phượng, tôi chỉ biết là Phượng rất đẹp, và nhất là có một sức hút dễ sợ. Chỉ cần gặp Phượng 1 lần là không người đàn ông nào quên được nàng.

Xin đừng hiểu lầm Phượng là “típ” người nở nang, ăn mặc khêu gợi; sức hút của Phượng là sức hút ngầm do duyên dáng, do tình ý, chuyển đi từ đôi mắt. Ðôi mắt thật là tình. Mẹ tôi phán là đôi mắt lẳng lơ, tôi không thích 2 chữ này vì nó làm mất đẹp cặp mắt trữ tình của Phượng.

Trước hôn nhân tôi mê mệt với đôi mắt ấy; sau hôn nhân tôi khổ sở, bực bội cũng vì đôi mắt ấy. Không 1 người đàn ông nào, dù chỉ gặp Phượng lần đầu, không có cảm tưởng đã yêu nàng và tình yêu của họ không bị nàng hất hủi. Ít nhất Phượng cũng không xua đuổi, không vô tình với họ. Tôi mất 1 số bè bạn cũng vì Phượng. Chỉ 1 vài lần gặp Phượng, chạm mắt với Phượng cũng đủ để họ thầm nghĩ là tôi dã mọc sừng.

Dĩ nhiên vợ tôi không thể có tình ý với tất chông nhìn mọi người 1 cách thản nhiên như người ta nhìn nhả mọi người, nhưng cái khổ là đôi mắt đắm đuối của Phượng kững vật vô tri quanh mình.

Giờ này, vợ tôi không còn trên cõi đời trần tục nữa tôi mới thấm thía hiểu được 1 việc rất giản dị, rất tầm thường là không tạo ra đôi mắt của chính mình, Phượng không có trách nhiệm gì về những đổ vỡ do đôi mắt gây ra. Chỉ có tác giả đôi mắt đó - ông Thợ Tạo - mới đúng là người tôi phải oán trách.

Ði đôi với cặp mắt tình tứ là 1 đồng tiền rưỡi (1 ở bên má trái, và 1 nửa ở cạnh môi dưới) trên khuôn mặt tươi như hoa, trắng mỏng manh. Cái đồng tiền rưỡi ấy - dù chỉ có đồng rưỡi - có ma lực giết người. Xin hiểu hai chữ “giết người” theo nghĩa trắng của nó. Chỉ riêng tôi biết cũng đã có 2 người chết đuối trong cái vũng thịt sâu không đầy nửa ly này. Một trong 2 người xấu số là bạn thân của tôi. Nó tự bắn vỡ toang đầu ngay trên bậc cửa nhà tôi. Lá thơ tuyệt mạng trong túi nó chỉ có mấy chữ “hình dung em đang nằm trong tay một người đàn ông khác, anh không còn can đảm sống nữa.” Tôi cũng không bao giờ đủ can đảm để tìm hiểu xem vợ tôi có nằm trong vòng tay nó không. Hai giòng chữ nó viết không cho phép tôi hiểu khác được.

Tôi chạy trốn trước mọi ngờ vực; tôi quan niệm đã không tránh được bão cát thì thà vùi đầu xuống cát để không còn biết tới giông bão bên ngoài nữa. Tôi hèn nhát? Có thể; nhưng tôi làm gì hơn được? Không chỉ yêu thương vợ, tôi vẫn còn say mê vợ tôi sau 3 năm chăn gối.

Mẹ tôi, chị tôi đề quyết vợ tôi đã cho tôi ăn bùa mê, thuốc lú. Tôi hiểu quan điểm những người thân của tôi; tôi hiểu cả định mệnh của tôi, của vợ tôi, và của cả những người say mê vợ tôi nữa. Tôi vừa nói tôi hiểu định mệnh của vợ tôi. Ðiều đó cần được giải thích rõ hơn; đôi khi tôi nghĩ Phượng cũng đáng trách, nhưng trong đa số những đổ vỡ quanh nàng, Phượng chỉ thụ động, đáng thương. Phượng sợ và tránh né tất cả mọi gặp gỡ. Những buổi liên hoan của đơn vị tôi, những cuộc họp khóa, họp bạn của tôi, luôn luôn Phượng cáo bệnh hay tìm cớ bận con để không tham dự.

Cũng như tôi, Phượng sợ hậu quả của những cuộc giao tiếp, sợ cái bản chất đa cảm, đa tình của chính mình. Không phải là 1 người đàn bà trắc nết, vợ tôi thật sự chỉ là nạn nhân của bản ngã. Sở dĩ tôi phải dài lời nói về vợ tôi như vậy, là để người đọc hình dung được cái ray rứt, khổ sở của tôi trong 14 tháng tù khổ sai được cộng sản đánh bóng bằng 2 chữ “cải tạo.”

Cũng như mọi sĩ quan cấp úy khác, tôi bị cộng sản lừa bằng cách chơi chữ. Trên đài phát thanh, chúng kêu gọi binh sĩ trình diện và đem theo 3 ngày ăn. Sau 3 ngày học tập, thành phần binh sĩ được ra về yên ổn. Tiếp theo đó, chúng kêu gọi các sĩ quan cấp úy trình diện với 10 ngày tiền ăn. Chúng tôi tin tưởng, hoặc ít ra chúng tôi cũng mong mỏi là thời gian cải tạo chỉ kéo dài 10 ngày. Ðó là cái lầm của tôi, cái ảo tưởng đưa đến chỗ tự diệt của mọi cán bộ chỉ huy.

Cộng sản hiểu rằng mặc dù nhất thời thất trận, lực lượng quân sự của miền Nam vẫn còn là một đe dọa nghiêm trọng đối với nền thống trị mà lúc ấy chúng mới rắp tâm đem đặt lên lưng người dân Nam Việt. Một triệu quân nhân bị đặt vào hoàn cảnh thất thế vì những lừa đảo, phản phúc chính trị, những dốt nát chiến lược đã bị những mũi dùi tấn công của 15 sư đoàn Bắc Việt xé thành từng mảng nhỏ. Muốn ngăn ngừa sự kết hợp lại của những mảng quân lực, cộng sản chủ trương đánh vỡ đầu rắn: chúng phải tiêu diệt bằng mọi giá hệ thống cán bộ chỉ huy của QLVNCH. Trong 3 ngày học tập, chúng đối xử hết sức nhã nhặn lễ độ với anh em hạ sĩ quan, binh sĩ. Không 1 hình thức hành hạ giam cầm, không 1 lời nói nặng, 1 đe dọa.

Sau 3 ngày học tập binh sĩ đem loan truyền với chúng tôi cái tin tưởng học tập qua loa, ra về đúng kỳ hạn. Ðiều đó làm đa số sĩ quan cấp úy chúng tôi yên lòng khăn gói lên đường với 10 ngày tiền ăn. Nhiều anh lười, không đem theo cả mùng mền, tính ngủ nhờ với bạn bè cũng đủ qua khoảng thời gian 10 ngày ngắn ngủi. Dĩ nhiên là chúng tôi đã lầm; chỉ ngay sau khi cái bẫy xập xuống đầu chúng tôi, cộng sản trắng trợn vứt bỏ mặt nạ “đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù.”

Bài học đầu tiên chúng tôi được nghe qua giọng nói hằn học căm hờn của 1 anh cán bộ quản giáo Bắc Việt. Anh ta oang oang bảo chúng tôi, “Các anh quên hết địa vị xã hội của các anh đi. Kể từ ngày hôm nay, vợ con các anh sẽ ngửa tay xin nhân dân từng hột cơm; và vài tháng sau vợ các anh chỉ còn nước đi làm đĩ để sống.” Chúng tôi thắc mắc về thời gian 10 ngày, hắn cười khẩy, vẻ mặt câng câng, đểu cáng, “Các anh chỉ có 10 ngày ăn thôi ư? Ðừng lo, cứ ăn hết 10 ngày đó đi đã; sau đó ăn bám vào sức sản xuất của nhân dân.” Trước mỗi cửa phòng giam, cộng sản cắc cớ bắt chúng tôi phải dán lên khẩu hiệu “không có gì quý bằng độc lập, tự do.” Cán bộ Việt Cộng còn phụ giải “người đi trên sa mạc thấy không có gì quý bằng nước uống. Các anh sẽ thấy đối với các anh thì không có gì quý bằng tự do.”

Ðề cao cái giá của tự do trong nhà giam quả là việc làm vừa châm biếm, vừa độc ác. Nhưng không phải chỉ trong nhà giam tôi mới thấm thía hiểu tự do là quý. Sau này ra khỏi trại cải tạo, sống trong cái nhà giam lớn hơn là nguyên cả Miền Nam Việt Nam tôi càng thấy rõ không phải chỉ một mình tôi, mà cả 20 triệu người dân Nam Việt đều đang khắc khoải giữa sa mạc thống trị, thèm khát ngụm nước tự do.

Xin trở lại với trại cải tạo và với vợ tôi; tôi bị giam 2 tháng hơn thì 1 buổi chiều nghe loa gọi lên văn phòng. Tôi tái người, nghĩ ngay đến những vụ thủ tiêu, biệt giam, thường xẩy ra đối với những thành phần cộng sản gọi là ngoan cố. Bản chất hiền lành, tôi không ra mặt chống đối bọn giảng viên, quản ngục. Cái tội của tôi chỉ là không nuốt trôi được mớ lý thuyết rẻ tiền, lẩm cẩm của cộng sản. Nhưng đối với chúng, đó không phải là 1 khinh tội. Tôi lo lắng chờ đợi một hình thức trừng phạt vì trọng tội trí thức.

Lên đến văn phòng, tôi được 1 anh binh ba Bắc Việt, mặt non choẹt, đưa vào phòng chính ủy. Và tôi đã chết đứng khi thấy Phượng trong đó. Giọng đầy cải lương, nhân vật số một của trại giam bảo tôi, “Xét thành tích học tập tốt của anh, nhân dân đặc biệt cho anh được nhận sự chăm nuôi của gia đình.”

Tôi học tập tốt? Thật là mai mỉa; những âm thanh giảng huấn chan chát của bọn cán bộ cộng sản đối với tôi không một mảy may khác những tiếng cuốc đất trong giờ lao động sản xuất. Tôi đoán hiểu cái lý do đã khiến “nhân dân đặc biệt cho phép” tôi được nhận sự thăm nuôi của gia đình. Cặp mắt nẩy lửa vì giận, tôi nhìn Phượng. Vợ tôi đã đến cái nước đi làm đĩ như bọn cộng sản tiên đoán rồi ư? Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt vẫn tình tứ, nhưng buồn thăm thẳm và ướt đẫm. Những giọt lệ lăn dài trên đôi má nhung mịn màng làm lòng tôi se thắt. Tôi thèm bước tới, ôm Phượng vào vòng tay, và hôn dài trên đôi mắt đắm đuối ấy. Nhưng dĩ nhiên ngoại cảnh không cho phép tôi làm việc tôi thường làm đó. Vợ tôi nghẹn ngào, “Bé Mai nhớ anh lắm.” Bé Mai! Ðứa con gái 2 tuổi của tôi, báu vật của vợ chồng tôi! Tôi đứng khựng như trời trồng trước cái hình ảnh nhỏ bé, thương yêu mà vợ tôi vừa gợi ra.

Suốt 10 phút gặp gỡ, tôi không nói được 1 lời nào với Phượng cả. Cổ họng tôi nghẹn cứng; rồi bên tai tôi văng vẳng thật xa có tiếng nói của tên chính ủy: “Thôi, xách đồ ăn về phòng đi, Tuần sau lại được thăm nuôi nữa.” Ðêm đó tôi không chợp mắt. Tôi hình dung những chuyện đã xẩy ra giữa vợ tôi và tên chính ủy cộng sản trước khi tôi được dẫn vào và sau khi tôi bị đưa ra khỏi văn phòng hắn. Tôi không tin đã có gì quá đáng trong phòng làm việc. Nhưng sau đó hắn có thể đến nhà tôi hay bảo vợ tôi đến 1 chỗ nào đó.

Tuần sau và những tuần kế tiếp, Phượng đều đều đến thăm tôi, mỗi lần đem theo một món ăn mà trước kia tôi ưa thích. Tôi nuốt những món khoái khẩu mà có cảm tưởng như mình đang ăn rơm khô, không mùi, không vị. Mỗi lần thăm viếng chúng tôi được nói chuyện với nhau 10 phút. Toàn những chuyện bâng quơ. Cả hai đứa chúng tôi đều không dám đả động tới điểm ngờ vực đau xót của tôi.

Có lần Phượng nói với tôi bằng cái giọng thiết tha nhưng nghiêm trọng, “Em chỉ xin mình tuyệt đối tin tưởng là em yêu mình. Suốt đời em, em chỉ yêu có một mình mình. Mặc dù những gì đã xẩy ra hay sẽ xẩy ra thì tình em yêu mình vẫn mãi mãi là sự thật duy nhất.” Qua tâm linh, tôi biết Phượng nói thật. Tôi muốn quên những việc đáng buồn đã xẩy ra; quên không được, tôi cố gắng bào chữa cho Phượng. Nhưng ghen tương, ích kỷ, cũng không phải là những cảm nghĩ nhỏ trong lòng người chồng. Những cuộc thăm viếng kéo dài được 4 tháng thì một hôm Phượng bảo tôi, “Tuần sau em về Long Xuyên với má; sống ở thành phố không có sinh kế gì hết.”

Tôi hăng hái khuyến khích vợ tôi xa lìa Saigon . Ít nhất về ruộng sống với mẹ Phượng cũng đỡ phải lo 2 bữa ăn hàng ngày, cái lo to lớn của người thị dân sau ngày bị giải phóng. “Mỗi tuần được gặp em là niềm an ủi lớn cho anh,” tôi bảo vợ. “Nhưng cái nhìn ngờ vực, khó chịu của 2,000 anh em đồng đội, đồng cảnh trước việc anh được uu đãi làm anh khổ sở. Anh muốn chịu chung những đầy ải với họ.”

Tuần sau Phượng không đến thăm tôi nữa. Cuộc sống khổ sai không hạn định trở thành dài hơn vì thiếu sự chia cắt của những tiêu mốc ngắn hạn. Tôi trở lại vị trí của cái máy người, vô tri giác, không phản ứng, bảo đi thì đi, bảo học thì học, bảo lao động thì lao động. Những bạn nào đã sống trong trại cải tạo của Việt Cộng hẳn đồng ý với tôi là cộng sản đã thành công trong việc làm chúng tôi mất hết tri giác. Không vui, không buồn, không hy vọng, thất vọng, không mong chờ bất cứ một điều gì nữa. Cuộc sống hàng ngày như một bộ máy được điều động bằng những tiếng còi, những khẩu lệnh. Phần ăn quá đói làm tất cả chúng tôi tìm được cái khôn ngoan của loài vật: không làm một cử động thừa, không nói một câu thừa để không phí phạm bất cứ một phấn thật nhỏ nào cái sinh lực le lói còn trong xác người.

Chính trong trạng thái vật vờ của một xác chết chưa chôn ấy, tôi nhận được giấy phóng thích. Cầm tờ giấy chấm dứt cuộc sống tù ngục của mình trong tay, tôi dửng dưng như cầm một tờ truyền đơn học tập. Nói dửng dưng cũng vẫn chưa đúng; tôi không ý thức được những thay đổi tờ giấy mang lại cho tôi. Nhẩn nha nhơi từng hột bắp của bữa ăn trưa đói khổ tôi nghe cơ thể khoan khoái với chút bồi dưỡng ít oi. Trái bắp có trong tay vẫn quý hơn hai chữ “tự do” mới viết trên giấy. Một cán bộ bảo tôi, “Chiều nay anh khỏi lao động; về sửa soạn nóp, chén trả lại nhà kho.” Khỏi lao động, một tin mừng khác. Tôi trở về căn phòng giam hôi hám nhưng mát rượi như một thiên đàng so sánh với cái hỏa ngục lao động sản xuất mà các bạn tôi đang chịu đựng ngoài trời.

4h chiều Phượng đón tôi ngoài cổng trại giam. Người vợ đài các của một bác sĩ mặc cái áo bà ba vải bông và cái quần đen, đứng vịn một chiếc xe đạp đàn ông cũ kỹ. Có thể tôi sẽ ít ngỡ ngàng hơn nếu từ trong thế giới tù ngục bước ra được gặp lại thế giới cũ của mình với xe honda, với áo dài. Tôi đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ sau chưa đầy 2 năm mất nước. Thế giới bên ngoài nhà tù không phải ít khe khắt, ít đọa đầy; suốt 1 năm trời tôi phải sống trong chế độ “quản chế của nhân dân”; tôi xin giải thích những chữ văn hoa này. Chế độ “quản chế của nhân dân” có nghĩa là tôi phải làm mọi không công, phải sợ sệt tất cả mọi người. Bất cứ ai trong phường cũng có quyền phán xét là tôi chưa giác ngộ, cần học tập thêm, là tôi lại đi tù nữa.

Tôi cúi mặt trước tất cả mọi người, dù đó chỉ là một đứa con nít. Tôi vâng dạ, tôi tuân lệnh, không cần biết lệnh đến từ đâu. Một bà hàng xóm gọi tôi đến coi chứng bệnh cho thằng con tám tuổi. Sau khi quan sát kỹ mọi triệu chứng, tôi bảo bà là con bà bị thương hàn và không có cách nào hay hơn là đưa nó đi bệnh viện. Bà quắc mắt, “Anh đi học tập ra mà còn như vậy đó hả? Nhân dân có quá nhiều nhu cầu để bệnh viện thừa chỗ trống cho 1 đứa con nít nóng lạnh. Anh không biết cách nào khác nữa sao?”

Tôi đề nghị bà đừng cho con ăn gì hết để ruột không hư. Bà ta cáu kỉnh nạt, “Lang băm tư bản.” Sau khi tôi về không hiểu bà có nghe lời tôi khuyến cáo không, nhưng rất may là đứa trẻ lành bệnh. Suốt nửa tháng trời tôi hồi hộp lo sợ: cái chết của đứa trẻ vì thiếu thuốc, thiếu chăm sóc có thể đưa tôi trở lại trại cải tạo như không.

Nguồn an ủi của tôi là số người thiếu ý thức như bà hàng xóm mà tôi vừa kể tương đối rất ít; đa số dân Saigon sống trong một tình đoàn kết ngấm ngầm nhưng khắng khít. Một bà cụ dúi cho tôi gói gạo nhỏ qua câu nói chí tình, “Bác sĩ phải ăn thêm mới sống nổi, tôi già rồi, thiếu thốn chút đỉnh cũng không đến nỗi nào.” Bà vợ của một công chức còn đang tù tội cho tôi đôi giầy. Ông hàng xóm sát vách cho cái áo.

Nhưng mọi nguồn vui của tôi đến từ Phượng thì nàng cũng là nguyên nhân của mọi buồn khổ. Phượng làm đĩ ra mặt, không còn e dè gì tôi nữa cả. Vợ tôi không chỉ tống tình cán bộ cộng sản để thăm nuôi tôi nữa, mà xuống đến tận chân thang của xã hội: mỗi ngày vài lần những anh phu xích lô đến gọi Phượng đi khách.

Những lần đầu tiên Phượng còn ngượng với tôi, nhưng sau quen dần, nàng chỉ bảo tôi, “lát em về.”

Phần tôi, tôi vẫn phải tình nguyện xung phong trong mọi công tác nặng nhọc của phường như hốt rác, quét đường, trồng cây, thông cống, ... . Tôi xung phong để được chấm điểm, xung phong để khỏi trở lại lao tù cải tạo. Ðôi khi nghĩ quẩn tôi cho rằng đi tù mà còn tự do hơn chế độ nhân dân quản chế.

Thêm một lần nữa, tôi tuyên dương sự thành công của cộng sản. Chúng đã hoàn toàn đập tan uy thế của giới chỉ huy, giới trí thức miền Nam . Suốt một năm ra khỏi tù, tôi không được phép làm bất cứ một việc gì cả. Nói một cách khác, tôi phải ăn bám vào đồng tiền vợ tôi ngày ngày bán thân tạo ra. Sau 31 năm, nghĩ lại tôi vẫn rùng mình khiếp sợ.

Tôi xin độc giả ngưng đọc 1 phút để hình dung cái nhục nhã của tôi, của tất cả giới trí thức miền Nam. Tôi không đủ can đảm để nói bất cứ câu gì với vợ tôi về việc làm của nàng; cả hai chúng tôi cúi đầu chịu phép trước guồng máy xã hội mới.

Nếu 1 ngày tù dài bằng 1.000 năm sống tự do thì 365 ngày bị trói tay, thất nghiệp, sống đói khổ dưới quyền quản chế của nhân dân, và nhìn vợ đi làm đĩ chắc phải dài hơn sự hiện hữu của cả hệ thống vũ trụ.

Giữa hai vợ chồng tôi nẩy sinh ra 1 tình trạng ngượng ngập khó tả, Ít khi tôi dám nhìn thẳng vào mắt Phượng, và gần như không bao giờ tôi dám nói với nàng chuyện gì khác hơn là những câu đối thoại tầm thường quanh sinh hoạt nho nhỏ trong nhà.

Thỉnh thoảng bà mẹ vợ tôi lén lút đem được ít gạo, ít thịt lên cho chúng tôi. Qua những cuộc tiếp tế lậu này, tôi khám phá thêm được 1 bí mật: vợ tôi không hề về Long Xuyên với mẹ như nàng đã nói với tôi. Phượng đã làm gì, ở đâu, trong 7 tháng trời tôi nghĩ nàng về quê sống với mẹ? Cả đến câu hỏi này cũng chưa lần nào tôi dám hỏi Phượng. Tôi trốn chạy một sự thật phũ phàng nào nữa đó sẽ đến, nếu Phượng phải trả lời tôi.

Tối 30 tháng Chín 1978, sau khi theo 1 anh xích lô “đi khách” về, Phượng kéo tôi vào phòng trong cùng với bé Mai. Trên bộ ván thay cho cái giường nệm đã đi vào chợ trời từ 2 năm trước, Phương mở gói thịt quay ra rồi bảo tôi, “Mình ăn với em.” Từ sau ngày mất nước đây là lần đầu tiên tôi lại được nhìn thấy miếng thịt quay; Phượng lăng xăng bới cơm, và vợ chồng con cái chúng tôi ăn uống ngon lành như chưa bao giờ được ăn ngon đến như thế.

Những đó không phải là điều ngạc nhiên duy nhất của tôi; ăn uống xong, vợ tôi kéo từ trên đầu tủ xuống một gói giấy: bên trong là một bộ đồng phục thanh niên xung phong. Tay chân run rẩy, Phượng trải bộ quần áo lên mặt bộ ván, rồi giọng nói cũng run rẩy nàng bảo tôi, “8 giờ sáng mai, mình mặc đồng phục này đứng đón tàu ở bến Bạch Ðằng.” “Ðón tầu? Ðể đi đâu?” Không trả lời câu hỏi của tôi, vợ tôi chỉ lập cập nói, “Em đã đóng đủ 10 cây cho họ rồi.” Mười cây vàng! Tôi choáng váng với con số lớn khiếp đảm đó. “Vàng đâu mà em có đến 10 cây?” Câu hỏi buột miệng không nuốt trở vào được nữa, tôi chỉ còn biết nhìn vợ tôi, câu xin lỗi ngầm chứa trong ánh mắt. Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt thăm thẳm tình tứ trên khuôn mặt vẫn còn đẹp dù đã gầy đi và dạn dầy phong trần.

Sau một phút im lặng, nàng nghẹn ngào, “Em không biết mình có tin hay không, nhưng sự thật lúc nào em cũng yêu mình.”

Tôi ôm Phượng vào lòng; giữa 1 xã hội thù hận, cái bóng mát yêu thương nhỏ bé thật là vô giá. Mặc dù Phượng chưa nói, nhưng tôi cũng đoán hiểu mục đích vượt thoát của chuyến đi ngày mai, và hiểu 10 lượng vàng, giá của chuyến đi là kết quả của những canh dài Phương đem thể xác ra cho thiên hạ dầy vò để góp nhặt từng đồng hầu mua tự do cho tôi.

Cổ nghẹn lại, tôi không nói được 1 tiếng nào cả; tôi vừa sung sướng trước những bằng chứng hiển nhiên của 1 mối tình to lớn, bền chắc, vừa xấu hổ nhận những hy sinh nhục nhã của vợ.

Phượng bảo tôi, “Em chỉ đủ tiền đóng cho mình; nhưng em với con vẫn đi theo mình.” Nàng giải thích cho tôi hiểu chuyến tầu vượt thoát là tầu thầu việc chuyên chở thanh niên xung phong đi làm rừng ở cửa Cần Giờ. Sáng mai, tôi sẽ cùng với 30 người nữa đội lốt thanh niên xung phong xuống tầu tại bến Bạch Ðằng. Ðàn bà, trẻ con đi đường bộ xuống ngã ba Ðồng Chanh, chờ tại đó và sẽ đổ lên tầu. Họ là những người đi lậu, không đóng vàng. “Người ta đi lậu nhiều lắm,” Phượng bảo tôi. “Em cũng trà trộn vào đám người đó; không lẽ người ta xô mình xuống sông. Sợ gì?” Tôi sợ. Rùng mình tôi nghĩ đến cảnh “người ta xô vợ con tôi xuống sông”, nhưng có sợ tôi cũng không giải quyết được cái khó không tiền và đành theo mọi xếp đặt của Phượng.

Ðêm đó tôi trằn trọc không ngủ, Phượng cũng không ngủ. Vào khoảng gần sáng nàng hỏi tôi, “Mình đã đủ tin vào tình em yêu mình để tha thứ hết mọi việc cho em chưa?” “Anh tin. Anh yêu mình.” “Em còn một tội nữa, chưa thú nhận được với mình.” Trong bóng đêm, tôi lặng thinh lo lắng. Ngần đó bất hạnh chồng chất vào một cuộc sống ngắn ngủi, cay cực, còn chưa đủ nữa hay sao. Vợ tôi thở dài, “Lúc đó em còn khờ quá nên chuyện mới xẩy ra. Em phải nói dối mình là em về Long Xuyên với má. Thật ra em không muốn mình buồn.” Dù vợ tôi chưa nói ra, nhưng tôi cũng đoán hiểu. “Em có con?” tôi hỏi. Rúc đầu vào ngực tôi, vợ tôi thút thít khóc, “Mình tha cho em.” Ðứa con chỉ là hậu quả đương nhiên của những việc làm mà tôi đã nhìn vợ tôi hàng ngày đi theo những bác phu xích lô để làm. Bây giờ tôi lại hiểu mục đích cao cả của việc làm đê tiện đó. Tôi thương Phượng hơn là trách nàng. “Ngày mai em muốn cho con cùng đi?” “Nếu mình đồng ý.”

Dĩ nhiên tôi đồng ý; đồng ý đưa những người thân nhất đời mình vào chuyến đi địa ngục, vào vòng tay tử thần.

Trước 5 giờ sáng hôm sau, trong bộ đồng phục thanh niên xung phong, tôi chở Phượng và bé Mai trên chiếc xe đạp mà mấy tháng trước Phượng đã dùng để đón tôi ra khỏi trại tù cải tạo. Mặc dù giờ hẹn là 8 giờ, nhưng tôi vẫn đi sớm để hàng xóm đừng để ý đến bộ đồng phục của tôi. Hơn nữa, Phượng còn ghé Phú Nhuận, nơi nàng gởi nuôi thằng Vình, đứa trẻ ra đời trong thời gian tôi ở tù.

Mọi việc xuôi lọt, và tương đối dễ dàng: 7 giờ sáng tôi đến điểm hẹn; nhiều người cũng mặc đồng phục như tôi đã có mặt; nhìn thái độ ngỡ ngàng, dè dặt của họ, tôi hiểu họ cũng như tôi, ngoài bộ áo thanh niên xung phong, chúng tôi không xung phong làm gì hết. Phượng bảo tôi, “Mình chờ ở đây, em qua Tân Thuận đón đò máy.”

Nhìn vợ lưng đai một đứa con, chở đứa thứ nhì trên thanh ngang xe, ra sức đạp chiếc xe cót két, tôi nghe đứt ruột. Nửa tiếng đồng hồ sau tôi xuống tàu, chọn chỗ ngồi ngay bên hông, hy vọng giúp đỡ Phượng đưa con lên. Khoảng 8 giờ 45, tàu đến ngã ba sông Ðồng Chanh; bốn chiếc đuôi tôm xáp lại, đàn bà trẻ con ồn ào dành nhau leo lên. Tôi đỡ bé Mai trên tay Phượng, rồi kéo Phượng, tay còn bồng thằng Vinh lên theo. Cuộc đổ bộ của khoảng 70 đàn bà, trẻ con lên tàu không những đã công khai mà còn ồn ào, hỗn độn, tranh dành, la lối, đính chánh hùng hồn cái huyền thoại gán cho cộng sản một hệ thống an ninh bao trùm và hữu hiệu. Hàng chục khách thương hồ và ít nhất là 4 người tài công đuôi tôm đã chứng kiến và chắc chắn cũng đã biết mục đích của chuyến đi, nhưng cộng sản vẫn không bắt buộc được họ khai báo, phản phúc đồng bào ruột thịt.

Mười rưỡi, tàu ra đến cửa biển Cần Giờ, và trưa hôm đó quê hương thương yêu chỉ còn là một vệt dài đậm hơn mầu biển. Ðến lúc này các “giới chức” trên tàu mới hò hét chửi mắng những người vượt thoát lậu. Họ bảo chỉ dự trù lương thực và nước uống cho những người có ghi tên và có góp vàng. Những người khác sẽ không có khẩu phần.

Phần ăn và nhất là phần nước uống ít oi của tôi được chia làm 4; bao tử trống nhưng tâm tư vợ chồng chúng tôi tràn đầy hạnh phúc. Vợ tôi ngồi sát bên tôi, tay ẵm thằng Vinh, bé Mai nằm gọn trong lòng tôi; đầu vợ chồng tôi đội chung một cái áo, vừa làm nón cho người lớn, vừa làm mái nhà cho trẻ con.

Ngồi bó rọ trong cái cảnh mà nếu được nhìn thấy, chắc mọi người phải gọi là địa ngục trần gian, vợ chồng tôi bàn chuyện thiên đàng mộng tưởng. Cái thiên đàng của chúng tôi rất giản dị: bất cứ nơi nào cho tôi được đem sức đàn ông ra đi làm, làm bất cứ việc gì để nuôi vợ, nuôi con. Tôi bảo Phượng, “Anh sẽ làm việc, làm ngày, làm đêm, để không bao giờ em và con còn phải thiếu thốn khốn khổ nữa.” “Em thương mình,” Phượng thủ thỉ bên tai tôi. “Không bao giờ em còn làm mình buồn nữa.”

Tất cả những cam kết, hứa hẹn, dự tính đẹp như mộng ấy, chúng tôi đem ra làm thức ăn để đánh lừa cơn đói. Khẩu phần của tôi mỗi bữa khoảng 2 chén cơm chỉ vừa đủ cho 2 đưa nhỏ. Phượng và tôi nhắp một đầu đũa để cầm hơi.

Qua đến ngày thứ 3, vì đói quá, khi đi lãnh cơm tôi thò tay vào nồi, vừa bốc thêm một nắm cơm vừa nói, “Cho tôi xin thêm chút cơm.”

Một quả đấm bay vào mặt tôi; yếu đuối sau 14 tháng bị giam cầm đói khổ, yếu đuối sau 3 ngày thiếu cơm, thiếu nước, tôi té ngửa dưới sức mạnh của quả đấm trời giáng.

“ÐM quân ăn cướp. Ðã đi lậu mà còn đòi ăn nữa hả.”

Quả đấm tuy đau, nhưng tôi vẫn mừng vì cà mèn cơm chưa đổ. Bưng cà mèn đầy cơm hơn nhờ bốc thêm được một nắm về mái lều to bằng manh áo, tôi sung sướng nhìn Phượng được ăn thêm miếng cơm thứ nhì. Tôi an ủi vợ, “Mình đi được 3 ngày rồi, nhiều lắm 2 ngày nữa cũng phải đến Thái Lan hay Mã Lai.”

Héo hắt cười, Phượng nhìn tôi. Tôi muốn thuyết phục cho vợ yên lòng, nhưng chính giọng nói của tôi cũng không vững.

Mũi tàu vẫn hướng về phía Nam , điều làm tôi thắc mắc. Mặc dù không có cả đến một tấm địa đồ nhỏ trong tay, nhưng tôi vẫn mường tượng được vị trí của Thái Lan và Mã Lai so với Việt Nam . Tôi góp ý với những người điều khiển tàu là nên cho mũi tàu chếch thêm về hướng Tây Nam . Tôi chưa nói dứt lời, một ông vạm vỡ nạt ngang, “Anh biết gì mà nói.”

Ðến ngày thứ 5 của chuyến hải hành, vợ tôi lả đi vì đói, vì mệt và say sóng. Phượng dựa vào thành tàu, mắt nhắm nghiền, đầu gục xuống. Tôi van xin ông ngồi cạnh nửa thước khoảng trống để vợ tôi có thể ngả lưng trong thế nằm co quắp. Hai đứa bé không còn khóc được nữa; tiếng khóc của chúng trở thành những tiếng rên nho nhỏ.

Tôi mò xuống bếp tán tỉnh xin phụ việc. Khoản thù lao tôi mong mỏi chỉ là mỗi bữa một chén nước cơm cho trẻ con uống. Chúng không còn sức để nhai và nuốt vật cứng nữa. Một ông “giới chức” hất hàm hỏi tôi, “Trước kia anh làm nghề gì?” Dĩ nhiên việc đi cải tạo không phải là một nghề, mà cũng không phải là việc đem ra khoe được, tôi đành khai, “Thưa ông, tôi làm bác sĩ.” “Biết chích không?” “Dạ biết.”

Thế là tôi biến thành thầy Hai chích dạo. Bà vợ ông giới chức bị bệnh đái đường; ông đem theo một xách thuốc cần thiết cho bà, nhưng thiếu thầy Hai chích. Ðường lên, bà nằm mê man từ 2 ngày nay. Tôi được đưa vào khoang để chích insuline cho bà. Bữa đó không những có được chén nước cơm, mà trong cà mèn còn thêm được một miếng thịt.

Ðược dinh dưỡng, vợ tôi và 2 đứa trẻ cũng tỉnh táo hơn. Chiều hôm đó tôi lại có thêm một thân chủ: gia đình một người Trung Hoa nhờ tôi chăm sóc cho đứa con bị cảm nắng. Họ tạ thầy một hộp Sumaco, khiến bữa ăn chiều của chúng tôi có thể nói là thịnh soạn. Cà mên cơm đầy ăn với cá hộp giúp Phượng đủ sức ngồi dậy săn sóc con. Hai đứa trẻ vẫn đuối, nhưng nhờ được uống nước cơm nên không đến nỗi bị lả đi như hôm trước nữa.

Sáng hôm sau tôi trở lại chích thuốc cho bà giới chức; nhờ insuline làm tan đường, bà đã ngồi dậy được, tỉnh táo hơn. Uy tín lang băm của tôi gia tăng nhanh chóng, số thân chủ cũng gia tăng vì sau 5 ngày ngồi bó rọ phơi nắng, gần như tất cả mọi người đều cảm thấy mệt đuối, đau nhức, nhiều người sốt, cảm, và ho.

Nỗi khổ tâm của tôi là trị bệnh không dược liệu; đem kinh nghiệm 14 tháng giúp bạn tù trị bệnh bằng phương pháp kháng bệnh, tôi chỉ dẫn mọi người cách hô hấp, cánh tập trung tư tưởng để tự kỷ ám thị. Nhờ hành nghề bác sĩ, khẩu phần của gia đình tôi trở nên sung túc hơn rất nhiều. Mỗi gia đình vượt biển đều có thủ theo một vài thứ thực phẩm khô, họ chia cho tôi một ít để thù lao bác sĩ.

Ðến ngày thứ 7, nhờ được ăn no hơn vợ tôi đã bình phục và hai đứa trẻ cũng tỉnh táo. Trưa hôm ấy chúng tôi gặp hoạn nạn: chiếc áo mái nhà của tôi bị gió biển cuốn đi, vợ tôi lục giỏ tìm cái áo khác ra căng lều. Lần này tôi có ý cột kỹ tay áo vào thành tầu. Tối hôm đó, đang gục đầu trong thế ngủ ngồi tôi nghe như một biến chuyển lớn đang xẩy ra. Giật mình tôi thức dậy trong tiếng reo hò của mọi người.

“Tới rồi. Thấy đất rồi.” “Cảm ơn trời phật. Chuyến đi quá dài nhưng rồi cũng đến.” Giọng quát của một giới chức, “Ngồi cả xuống; chạy tới, chạy lui, mất thăng bằng lật tàu chết cả đám bây giờ.” Mọi người ngoan ngoãn ngồi trở xuống, nhưng tiếng ồn ào vẫn không ngớt. Người ta bàn tán, “Chắc là Mã Lai.” “Có lẽ như vậy, vì nó là hòn đảo, chứ Thái Lan thì đã thấy lục địa. “Không chừng Nam Dương.” “Rất có thể là Úc.”

Vợ tôi nắm tay tôi bóp mạnh. Tôi nghe như những mừng vui của Phượng đang được chuyền sang tâm hôn tôi mà không cần một lời nói. Mọi người mừng vì chuyến hải hành 8 ngày đã đến đích. Cuộc hành trình của riêng tôi và Phượng đã kéo dài gần 4 năm, mà mỗi ngày là một cơn ác mộng bất tận cho cả 2 chúng tôi cũng đang chấm dứt với chuyến đi này. Nỗi mừng của chúng tôi, vì vậy mà to lớn hơn tất cả. Chúng tôi mừng đến không nói được nên lời, không hò reo được như mọi người. Tôi ngồi yên, không buồn chồm lên nhìn hòn đảo mà tàu đang tiến vào nữa. Niềm vui của tôi đã quá đầy từ ngày bước chân xuống tàu rời bỏ quê hương địa ngục, trên những bằng chứng xác nhận tình yêu tuyệt vời của Phượng đối với tôi. Không một người bạn đồng thuyền nào thỏa mãn bằng tôi. Ông bạn ngồi cạnh gợi chuyện, “Hình như hòn đảo nhỏ quá.” “Vâng,” tôi lơ đãng đáp. “Không chắc đã có người trên đảo.” “Vâng.” Mũi tàu vẫn hướng vào hòn đảo cô đơn trong khi niềm lạc quan trên tàu lắng xuống. Khoảng cách thu ngắn dần làm mọi người thấy rõ kích thước nhỏ bé của hải đảo. Nhưng giữa khoảng ngàn trùng của đại dương nhấp nhô hòn đảo kia vẫn là đất, vẫn bảo đảm vững vàng. Hơn nữa, nó cũng lớn tối thiểu bằng 20 lần con tàu dài 15 thước, rộng 3 thước với 140 người trong lòng tàu.

Ða số góp ý kiến nên ngừng lại đảo. “Biết đâu bờ bên kia lại không có một làng chài lưới.” “Ghé nghỉ ngơi một ngày, đi lại cho dãn gân; ngồi bó gối mãi, mỏi quá.” “Có thể tìm nước ngọt, đánh cá tăng thêm thực phẩm trước khi tiếp tục đi nữa.”

Cuối cùng, những giới chức trên tầu quyết định cho tầu chạy một vòng quanh đảo để quan sát trước. Và đó là quyết định cuối cùng của họ với tư cách chỉ huy chiếc tiểu hạm tử thần: mới chạy được nửa vòng đảo, tàu chạm đá ngầm, vỡ đáy, lật nghiêng qua 30 độ.

Phượng văng từ thành tàu bên này sang thành tàu bên kia, thằng Vinh tuột tay mẹ, rơi thẳng xuống biển. Trên đà nghiêng của con tàu, tôi phóng nhanh đến bên Phượng, trao vội bé Mai cho nàng và nhẩy xuống biển để chỉ vừa kịp nắm tay đứa bé chưa đầy năm, theo nó ngụp vào một đợt sóng lớn. Sóng đưa tôi và thằng Vinh vào gần bờ, và do đó tôi trở thành người đầu tiên đặt chân lên hòn đảo san hô thê lương, sau này biến thành nơi gởi xác của nhiều người trong chúng tôi.

Việc làm đầu tiên của tôi là bồng thằng Vinh đưa lên cao để vợ tôi nhìn thấy mà yên lòng. Cách bờ khoảng 15 thước, mọi người nhốn nháo; tiếng kêu khóc thật là thê thảm, nhiều người nhẩy xuống nước chạy vào bờ. Sau khi bị vỡ đáy, con tàu mắc cạn đang từ từ trở lại thế thăng bằng, mặc dù vẫn còn hơi nghiêng, nhưng người trên tàu không đến nỗi phải bám cứng vào thành tàu để khỏi rơi xuống biển nữa.

Nhờ người coi chừng thằng Vinh, tôi lội xuống nước trở ra mạn tàu bồng bé Mai, và xách gói hành lý khiêm tốn của chúng tôi, rồi dắt Phượng lên đảo. Nhiều người khác cũng làm như chúng tôi; họ lìa bỏ con tàu mà không cần biết là đi đâu, nhắm mắt đưa chân, như 8 ngày trước rời bỏ quê hương Việt Nam .

Ðó là sai lầm của chúng tôi. Hòn đảo san hô khô cằn, lởm chởm, không dung nạp chúng tôi. Tìm được một chỗ bằng phẳng để ngồi xuống cũng đã khó chứ chưa nói đến việc ngả lưng.

Sau gần một tiếng đồng hồ loay hoay tìm kiếm, tôi chọn được một hốc đá tương đối rộng rãi để định cư. Cái áo làm mái nhà đổi vai trò trở thành tấm chiếu cho trẻ con ngồi. “Ðau đít quá ba ơi,” bé Mai nhăn nhó nói.

Tôi ẵm con lên, đặt nó ngồi trên bọc quần áo, rồi bảo Phượng, “Em coi chừng con, anh đi quanh tìm xem có con ốc, con sò nào không.”

Tôi ngỡ mình là người nhanh chân trong việc đi kiếm ăn, nhưng hơn chục người khác cũng đã lom khom trong các hốc đá tìm kiếm như tôi. Cái may của tôi là trong một kẹt đá nhỏ, tôi chụp được hai vợ chồng một chú tôm hùm khá to, mỗi con khoảng hai kí. Phượng reo mừng, “đồ biển sẵn thế này là không phải lo đói nữa.”

Phượng lầm, mà tôi cũng lầm. Ðồ biển không sẵn như chúng tôi tưởng, hoặc ít ra thì đó cũng không phải là nguồn thực phẩm đủ cung cấp cho 140 người đói khát.

Tôi đi nhặt rác và rong biển về làm củi nướng tôm; tôi cũng tìm được một mảnh ván nhỏ cho Phượng ngồi. Bữa ăn đầu tiên trên hoang đảo, cách tìm thực phẩm, nướng và ăn bốc theo kiểu thượng cổ, vừa ngon lại vừa vui. Vợ chồng, con cái chỉ ăn hết một con tôm, con thứ nhì để dành. “Em chưa thấy con tôm hùm nào lớn đến như vậy,” Phượng vừa chôn vỏ tôm xuống cát vừa bảo tôi.

Mới 6 giờ chiều, mặt trời còn cao mà gió biển nghe đã lạnh; tôi lo lắng bảo Phượng, “Có bao nhiêu quần áo em lấy mặc hết cho con. Cả em nữa.”

Gói hành lý được mở ra, tắp hết lên người. Mỗi đứa trẻ mặc 4 áo, 3 quần. Phượng được 3 áo, 2 quần. Tôi mặc thêm cái sơ mi nửa ra ngoài bộ đồng phục chưa thay từ ngày đi.

Gia đình ông hàng xóm sát hốc đá nhà tôi định xuống tầu tránh lạnh nhưng bị đuổi trở lên. Một số thanh niên tổ chức chiếm độc quyền cư ngụ trên tầu. Họ cũng ngưng, không phát thực phẩm như trước nữa.

Ðêm hôm đó một người đàn bà chết, có lẽ vì quá lạnh. Chúng tôi xuống tầu mượn được một cây xà beng và một cái búa để đục đá chôn người xấu số. Ðó là người đầu tiên và người cuối cùng được chôn. Lý do thứ nhất khiến chúng tôi không chôn người chết nữa là vì đục đá làm mồ là một công trình quá khó mà lại không hiệu quả. Lớp đá vụn lấp xác chết không chặt được như đất nên chỉ một ngày sau mùi thối đã xông lên nồng nặc. Lý do thứ nhì chua chát hơn: người ta không muốn vùi đi mấy chục kí thịt của người chết trong lúc tất cả đều đói.

Xác chết đầu tiên tôi thấy bị xẻ thịt là xác một thiếu nữ trắng trẻo, xinh xắn. Tôi đang đi nhặt ốc thì nhìn thấy xác cô, khuy áo bị cổi banh ra, chỗ đôi nhũ hoa chỉ còn thịt lầy nhầy và mấy rẻo xương lồng ngực. Một tiếng đồng hồ sau, tôi trở lại, cô đã bị lột truồng, bắp vế, bắp chuối bị xẻo mất.

Tôi rùng mình. Suốt 2 năm chinh chiến tôi cũng đã chứng kiến nhiều cái chết ghê rợn do súng đạn gây nên, nhưng quả thật chưa một xác chết nào làm tôi khiếp đảm hơn.

Thượng Ðế ơi, người đã sinh ra con người như sinh vật khôn linh hơn mọi sinh vật khác, sao người lại còn bày ra những thử thách trớ trêu đó để làm gì? Ðể chứng minh là con người cũng không hơn gì loài cầm, loài thú ư?

Tôi trở về hốc đá với khuôn mặt chắc phải vô cùng sầu thảm; nhìn tôi, Phượng bảo, “Mình đuối lắm rồi, để em đi kiếm thực phẩm thay mình.” “Em không đi đâu hết,” tôi gạt phăng.

Vợ tôi nhìn tôi lo sợ; có thể Phượng thấy phản ứng của tôi không bình thường, chưa bao giờ tôi gắt gỏng với nàng, ngay cả những lần nàng theo bác phu xích lô đi khách. Quanh chúng tôi, người ta phát điên, người ta đánh nhau chỉ vì những chuyện không đâu. Tình trạng tuyệt vọng, kinh hoàng làm chúng tôi thành hốt hoảng. Có thể Phượng nghĩ tôi cũng đang có những triệu chứng bắt đầu. Tôi an ủi vợ, “Anh không muốn em đi đâu hết. Quanh chúng ta đang có trên 100 người mất tự chủ. Em phải ở cạnh anh.”

Thật ra tôi chỉ muốn tránh cho Phượng khỏi nhìn thấy xác người thiếu nữ không vú, không đùi. Kéo đầu Phượng gục vào vai, tôi vỗ về, “Rồi mọi chuyện sẽ khá hơn; thế nào chẳng có một thương thuyền đi qua đây.” Tôi nói để mà nói, nhưng tôi nghĩ Phượng không mấy tin, không mấy quan tâm đến những điều tôi nói.

Chúng tôi đã đói khát gần 1 tuần lễ; quanh bờ biển không còn một cái vỏ hào nào nguyên vẹn. Người đầu tiên vừa đập vỡ con hào để lấy ruột, thì chỉ vài phút sau đã có người đến đập lần thứ nhì, hy vọng vớt vát một chút gì còn xót lại.

Ðến tuần thứ nhì không ai còn dấu diếm chuyện ăn thịt người nữa. Gần như tất cả mọi người đều đã ăn thịt đồng loại. Tệ hơn là họ không chờ nạn nhân chết hẳn mới xẻ thịt. Ðể thịt và ruột gan không lạnh tanh, họ xẻ thịt những người đang thoi thóp, ngắc ngoải. Xương và đầu người chết bị ném xuống biển, cám dỗ hàng bầy cá mập.

Nhìn những con cá hung hãn chồm vào đến tận bờ để chia phần thịt người, tôi bàn với ông hàng xóm phương pháp bẫy cá mập. Chúng tôi đào một vũng cạn, rồi lấy đá be bờ khá cao. Sườn vũng nước nghiêng vào bờ, bên trong sâu hơn bên ngoài bờ biển. Mượn cái đầu của một bà lão vừa bị xẻ thịt, chúng tôi thả mồi chờ cá mập; thời gian chờ đợi không lâu hơn 20 phút: theo đà sóng một con cá mập nhỏ, khoảng trên dưới 40 kí, trườn vào bẫy.

Sóng rút ra, cá mập mắc cạn và chết ngay sau vài chục nhát búa và xà beng của chúng tôi. Chúng tôi lôi cá lên cạn xẻ thịt; khoảng vài chục người đến hôi món thịt cá mập. Việc xẻ thịt chưa xong, con cá mập thứ nhì đã lại trườn vào bẫy trước tiếng reo hò mừng vui của hơn 100 con người đói khổ.

Thịt cá mập béo ngậy và tanh rình, nhưng vẫn giúp chúng tôi tránh được ăn thịt người, và cái bẫy cá mập của tôi trở thành nguồn cung cấp thực phẩm khá dồi dào cho những nạn nhân mắc cạn.

Cái khổ của chúng tôi là trên đảo san hô không còn một thứ gì có thể sử dụng thay củi nữa cả; một vài người liều lĩnh xách búa ra định bửa tầu lấy gỗ, nhưng chỉ cần một phát súng bắn chỉ thiên của nhóm thanh niên khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, lại có võ khí, đang chiếm giữ con tàu, cũng đủ làm những người liều nhất trở thành khôn ngoan, lui nhanh vào bờ.

Cầm miếng cá sống, vừa xệu xạo cắn, Phượng vừa hỏi tôi, “Mình có còn tin được câu người ta thường nói ‘trời xanh có mắt’ nữa không?”

Tôi thở dài. Nếu quả trời có mắt thì cặp mắt đó đã nhắm lại từ 4 năm nay rồi. Bé Mai chỉ còn là một cái xác nhỏ xíu, gầy ốm, thoi thóp níu vào cuộc sống. Thằng Vinh khá hơn đôi chút, nhưng cũng nằm lả, đôi mắt gần như không bao giờ hé mở.

Tôi nhai miếng cá trong miệng đến thành nước rồi cúi xuống mớm cho con. Phượng thút thít khóc. Cũng như tôi, vợ tôi hiểu mạng sống của đứa con gái chúng tôi thương yêu, nâng niu, đang tàn lụi dần và sẽ tắt hẳn, khi gió biển, nắng cháy, và thiếu dinh dưỡng, cướp đi những sinh lực cuối cùng.

Bé Mai bỏ đi tối hôm đó. Ôm con trong tay tôi nghe hơi thở nó yếu dần, yếu dần trước khi tắt hẳn. Cơ thể của đứa con yêu thương vẫn mềm mại nhờ chút hơi ấm của tình phụ tử ủ ấp.

Tôi lặng đi ngồi ôm xác con trong gió biển cắt da; khoảng một tiếng đồng hồ sau Phượng hỏi tôi, “Con có khá hơn không mình?”

Tôi hiểu nghĩa câu hỏi này: Phượng muốn biết bé Mai đã chết chưa, nhưng chữ “chết” ghê rợn không phát ra được trên đôi môi người mẹ. Tôi lặng thinh để vợ tôi ngỡ là tôi đã thiếp đi trong mòn mỏi. Nhưng rồi tôi thiếp đi thật; sức chống đỡ của cơ thể chỉ có giới hạn. Giữa những hoàn cảnh phi lý nhất, thể chất vẫn giữ nguyên những đòi hỏi bình thường của nó. Ôm xác con trong tay, ngồi giữa một cô đảo Thái Bình Dương, tôi ngủ ngon lành.

Tôi bị mặt trời nhiệt đới đánh thức; mở mắt dạy trong ánh nắng chói lòa, tôi hốt hoảng nhận ra là bé Mai không còn nằm trong tay tôi nữa. Phượng cũng không thấy đâu cả. Tôi cất tiếng gọi vợ, tiếng sau lớn hơn tiếng trước, những tiếng cuối cùng trở thành tiếng gào kinh hoảng.

Những người chung quanh nhìn tôi; cặp mắt họ không thiện cảm, nhưng cũng không ác cảm, mà chỉ là những cập mắt vô can mất hết khả năng xúc động. Cái khổ đau, bất hạnh của tôi, tôi cứ tự gánh lấy. Phần riêng của họ cũng đã quá lớn, họ không thể chia xẻ thêm với ai chút gì nữa cả.

Tay ẵm thằng Vinh, tôi phóng nhanh xuống bờ biển vừa chạy quanh đảo, vừa gọi Phượng. Vợ tôi ngồi xẹp trên một phiến đá, vẻ mặt sầu khổ. Ôm chầm lấy vợ, tôi hỏi, “Em đi tìm con?” Vợ tôi không nói được một tiếng nào cả. “Họ đã xẻ thịt bé Mai?” Phượng gật đầu rồi gục vào vai tôi thút thít khóc; tôi lặng đi, tê tái.

Nguyên ngày hôm đó vợ chồng chúng tôi không nói thêm với nhau một câu nào nữa. Trước những đổ vỡ thương đau toàn diện, chúng tôi không còn khả năng khóc, than.

Sáng hôm sau, sau một vòng đi tìm thực phẩm thất bại như từ nhiều ngày nay, tôi trở về hốc đá và tình cờ khám phá ra nguyên nhân giúp bé Vinh còn tương đối mạnh khỏe: Phượng đang cho con bú. Tôi ngạc nhiên vì từ trước đến giờ Phượng không hề làm việc đó. Cả bé Mai cũng bú sữa bò từ khi mới lọt lòng.

Phượng bối rối nhìn tôi, trong lúc tôi nhìn bé Vinh: môi đứa bé đỏ lòm. Tôi kéo vú Phượng ra để thấy một vết cắt còn mới trên đầu vú. Tôi tìm thấy nhiều vết cắt khác ở đầu ngón tay, ở cổ tay người mẹ khốn khổ. Thở dài, tôi cúi đầu. Phượng đang trút tàn lực sang để nuôi một mầm sống. Việc làm vô cùng đáng kính phục đó chắc chắn sẽ làm tôi trở thành góa bụa sớm hơn. Dĩ nhiên tôi không ngăn cản, cũng không phiền trách gì Phượng. Ðiều độc nhất tôi có thể làm là cố gắng hơn nữa trong việc tìm kiếm thực phẩm để nuôi Phượng và bé Vinh, nhưng số người đói khát thì đông mà số thực phẩm lại giới hạn nên gần như chúng tôi không còn tìm ra bất cứ một thứ gì, dù chỉ là cỏ, là cây, để nhai trong miệng.

Bốn ngày sau ngày bắt gặp Phượng cho con bú bằng máu, tôi tìm được một con cua khá lớn. Phượng ăn gượng gạo rồi lại nằm ngay. Vợ tôi đuối đến mức tôi phải xé từng miếng thịt cua, đút vào miệng cho nàng. Suốt tuần sau, tôi chỉ tìm được vài con ốc. Nhìn những triệu chứng sắp chết của vợ, tôi nghe đứt ruột. Tôi không dám đi kiếm thực phẩm xa nữa, sợ người ta đến ăn thịt Phượng.

Hai ngày sau, đang nửa mơ, nửa tỉnh, tôi chợt nghe nhiều tiếng súng; tiếp theo là tiếng reo hò. Bàng hoàng choàng dậy, tôi nhìn theo hướng nhìn của mọi người và thấy một chiếc tàu đang từ từ tiến lại.

Tim tôi ngừng đập; cuối cùng trời vẫn còn có mắt, chúng tôi sắp được cứu sống, và tôi vẫn còn Phượng, còn người vợ mà trong hoạn nạn tôi thấy tình yêu trở thành to lớn hơn, bền chặt hơn. Tôi sẽ lại được mê mệt, được khổ sở với cặp mắt đa tình của Phượng.

Trong tiếng reo hò của những người đồng cảnh ngộ, tôi cúi xuống thủ thỉ bảo vợ, “Hôm trước em hỏi anh có còn tin là ‘trời xanh có mắt nữa không’; bây giờ anh trả lời em là anh tin. Anh tin cuối cùng rồi ông trời vẫn có mắt.”

Nhưng tôi đã lầm. Ðối với những kẻ bất hạnh, vô phước như tôi, ông trời (nếu có ổng) đã vĩnh viễn nhắm mắt, quay mặt đi.

Con tầu tôi đang nhìn theo là một ngư thuyền của Ðài Loan. Họ neo xa bờ chừng 2 cây số, rồi cho ghe nhỏ vào chở người đại diện của chúng tôi ra thương lượng. Cuộc thương lượng, nói trắng ra chỉ là một cuộc trả giá.

Người đại diện trở về cho chúng tôi biết tầu Trung Hoa đòi một số vàng lớn mới chịu cứu chúng tôi. Số người có vàng đề nghị chia số người Trung Hoa đòi hỏi trên đầu người; những kẻ trắng tay như tôi ngồi lặng thinh, dự thính.

Chiều hôm ấy người đại diện của chúng tôi trở ra ngư thuyền Trung Hoa với một phản đề nghị. Cuộc trả giá kéo dài cho đến tối, và ông ta ngủ lại trên tầu đánh cá. Sáng hôm sau ông trở lại với 3 người Tầu, và bắt đầu cuộc ghi danh, góp vàng.

Những người có vàng để góp lần lượt được xuống ghe máy để ra tàu trước cặp mắt thèm thuồng của chúng tôi. Khoảng xế chiều việc đưa những người góp vàng ra tàu hoàn thành. Người Trung Hoa chở vào cho chúng tôi một thùng cá và bảo, “Các anh ăn uống tạm tối nay. Sáng mai chúng tôi sẽ vào chở tất cả ra tàu.”

Thì ra họ chỉ muốn làm khó dễ để lột một số vàng của những người có tài sản. Sáng hôm sau toàn bộ chúng tôi được chở ra tàu; một thủy thủ Trung Hoa giúp tôi bồng bé Vinh, trong lúc tôi bồng Phượng xuống ghe. Yếu đuối, tôi ngã mấy lần, Phượng mở mắt nhìn tôi, cặp mắt tình tứ, đắm đuối ngày xưa, giờ này đã mất thần.

Xuống tầu, tôi xin một ly sữa, đút cho Phượng, nhưng vợ tôi không còn nuốt được nữa. Tôi biết cơ thể nàng đã mất hết hydrate; giải pháp độc nhất còn lại là nuôi bằng nước biển, nhưng làm gì có thứ đó trên một ngư thuyền.

Phượng lịm dần và hơi thở thật sự tắt hẳn vào đêm hôm đó. Xác nàng bị chuồi xuống biển theo hình thức thủy táng./.

Nguyễn Đạt Thịnh

Tuesday, April 18, 2023

Khu Phố Ngày Xưa - Trang Hạ

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Khu Phố Ngày Xưa/Ca sĩ Trang Hạ 

Friday, April 14, 2023

Kỷ Niệm Ngày Nhập Ngũ | Hằng Phạm

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Kỷ Niệm Ngày Nhập Ngũ |/Ca sĩ Hằng Phạm 

Sunday, April 9, 2023

NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI - Sa Huỳnh

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI/Ca sĩ Sa Huỳnh

Wednesday, April 5, 2023

Chuyện O Lựu

Chuyện O Lựu

Năm tôi lên chín tuổi, mẹ mất. Chị Cả đi lấy chồng xa, chị Hai còn dại lại đang cắp sách đến trường, Ba tôi nhờ người bác tìm hộ một người giúp việc. Và O Lựu xuất hiện trong gia đình. 

O Lựu người làng Bồ Bản, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Nhà nghèo lại đông con, mẹ O quyết định cho O lên tỉnh “đi ở” kiếm chút vốn và cũng để bớt một miệng ăn. Năm ấy, O vừa mười sáu tuổi. Không giống những người làm ruộng vất vả khác, O Lựu có nước da trắng xanh, đuôi mắt dài, tóc chấm vai được cặp lại bằng một cái kẹp ba lá. Vào nhà được mươi lăm phút, O đã tất tả tìm cái chổi que quét dọn bếp núc. 

Có O Lựu, tôi khỏi phải ăn những bát cơm nửa sống nửa chín do chị Hai nấu, anh tôi không còn nhăn mặt trước dĩa chả trứng khét lẹt và ba tôi đã có ấm nước sôi pha trà buổi sáng. O dạy chị tôi “cuốc cươi thì phải khom người xuống”, dặn tôi “đừng leo cây ổi mà bổ lọi tay.” 

Mất mẹ lúc còn quá nhỏ, ba luôn nghiêm nghị, ít khi biểu hiện tình cảm ra bên ngoài, tôi chỉ còn O Lựu để nhõng nhẽo: “O Lựu rửa chân cho em…O Lựu cõng em đi chợ…O Lựu con mèo cào em”. Tai quái hơn, tôi còn bắt O làm bò cho mình cởi và khi muốn “bò” ngừng lại, tôi đấm thình thịch vào lưng. O lẳng lặng chiều theo ý tôi, không một lời phàn nàn. 

Đêm đêm khi gãi lưng cho tôi ngủ, O hay kể chuyện làng mình. Chuyện đền thờ Thần Hoàng có cây đa cao vút với con tinh áo trắng chuyên dọa người đi qua, chuyện bà lão hiền lành nhặt được cục vàng khi mò cua ngoài ruộng… Thỉnh thoảng, O lại đọc những câu ca dao mang âm điệu buồn bã “Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” hoặc “Chèo đò bẻ bắp bên sông. Bắp chưa có trái bẻ bông chèo về”… Tất cả ru tôi vào giấc ngủ êm đềm không mộng mị.

An phận thủ thường như những người giúp việc khác nhưng O Lựu lại có một sở thích kỳ lạ: thích chụp ảnh. Hè năm đó, cậu tôi ở Huế ra chơi đem theo cái máy ảnh Canon và chụp cho hầu hết các thành viên trong gia đình nhằm mục đích trau dồi tay nghề tài tử. Thấy sự hiền lành của O Lựu, cậu có nhã ý chụp cho O một tấm hình dưới gốc cây ổi. Ảnh sang ra, O trang trọng đón nhận bằng cả hai tay. 

O mua cho tôi một đồng kẹo Gia Địa và năn nỉ tôi viết cho hai chữ “Kỷ niệm” ngòng ngoèo đằng sau ảnh. Những ngày tiếp , O thể hiện sự biết ơn của mình một cách thầm lặng: giặt sạch bộ đồ nhà binh dày cộp, cắm cúi đánh bóng đôi giày “trấn thủ lưu đồn” của cậu. O xin tờ giấy bóng kính, bao tấm ảnh và cẩn thận xếp nó vào đáy rương. Những buổi trưa rỗi rảnh, ngồi sau hiên nhà bếp, O lôi ra ngắm nghía say sưa. 

Dưới đôi mắt một đứa con nít như tôi, tấm ảnh chẳng có chi xuất sắc nếu không nói là xấu bởi vì O Lựu trong hình bị xén mất một chân. O nói dưới làng chỉ có nhà giàu mới dám lên tỉnh chụp bóng để sau này có ảnh mà thờ. O ao ước phải chi có nhiều tiền sẽ ra chụp một cái hình màu ở tiệm LIDO ngoài chợ tỉnh. 

Mỗi năm, O Lựu được về thăm nhà một lần vào ngày hai bảy tháng Chạp. Khi đó, O mặc chiếc áo dài xanh của chị Cả tôi cho, đi đôi guốc mộc, đầu đội nón lá. Tiền công xá ba tôi đưa, O gói trong chiếc khăn mùi xoa và lận vào lưng quần. O xin anh tôi mấy cuốn tạp chí Thế giới Tự do về cho em dán trên vách nhà. Vắng O, tôi bần thần cả mấy ngày Tết. Năm nào, O lên muộn, ngồi trong lớp tôi sốt ruột sốt gan. Và thật sung sướng khi đi học về, đã thấy O Lựu trong nhà bếp. O đem lên làm quà những củ khoai từ đầy bột, mớ khoai lang tươm mật và những trái khế vàng ươm. Trước vẻ mặt phụng phịu của tôi, O hứa lần sau sẽ lên nhanh, sẽ xin cho tôi về Bồ Bản, một làng quê nghèo có lũy tre xanh, có động cát trắng với bao nhiêu là sim, móc và những bông hoa chạc chìu thơm ngát. 

Một hôm, tôi nằm ở nhà trên, say sưa dán mắt vào cuốn “Lửa cháy thành Phiên Ngung” thì O Lựu đi chợ về. Đã hơi trưa, O gọi vọng lên nhờ tôi lấy giúp cái kéo cắt râu tôm kịp nấu canh cho ba tôi về ăn. Mê mải với chàng trai Hoàng Anh Kiệt hào hùng, O giục giã vài ba lượt, tôi mới nhổm dậy làu bàu rồi vơ cây kéo chạy vội xuống nhà bếp ném đại về phía O đang lúi húi. Cây kéo không rơi xuống đất mà lại phi thẳng một đường vào trán của O, dòng máu đỏ tuôn ra. O cúi xuống, gục mặt vào đầu gối để cầm máu. Tôi hoảng hồn đứng lặng. Anh tôi vội vã lấy bông và thuốc đỏ rịt vết thương. Trưa hôm ấy, khi thấy trán O bị băng, ba tôi hỏi nguyên do, O nói trớ là bị va đầu vào cột nhà. O đã giúp tôi thoát khỏi trận đòn chắc chắn sẽ xảy ra. Sau đó, trên trán O có một vết sẹo khoảng ba phân vắt ngang. 

O Lựu ở với chúng tôi được 4 năm. Khi tôi vừa lên lớp đệ lục thì mạ O lên xin cho O về làng để “lấy dôông”. Ở nhà quê, hai mươi mà chưa có “dôông” là coi như ế. Tôi nằng nặc không cho O về. Mặc kệ cây roi mây và lời dậm dọa của ba, mặc kệ lời dụ dỗ và những trái khế ngọt của mạ O, tôi ôm O chặt cứng. Đêm ấy, trước khi đi ngủ tôi lấy cái khăn buộc chặt tay tôi vào tay O nhưng sáng mai thức dậy, O đã đi từ lúc nào. O để lại cho tôi năm đồng bạc mới trên gối. Tôi khóc tỉ tê suốt cả buổi và nhất định sẽ nhờ ai đó chở về làng tìm O. Chị Hai cứ chế giễu tôi vô duyên, không để O Lựu đi lấy chồng. 

Nhưng đứa bé 12 tuổi không dễ dàng thực hiện được dự tính. Làng Bồ Bản quá xa so với đôi chân bé nhỏ của tôi. Chiều chiều, tôi ngẩn ngơ ra sân ngóng đợi. Có lần, chị tôi đi sinh hoạt Hội Hồng Thập Tự Thị Xã đem về tập san Đan Tay, trong đó có một bài thơ của thầy Lê Văn Mãn dạy Sử Địa nói về Bồ Bản. Bài thơ có lẽ không có chi xuất sắc nhưng tôi thuộc nằm lòng vì nó nhắc đến làng O Lựu: 

Đường về Bồ Bản không xa 
Cách một trái núi với ba quãng đồng 
Chưa đi những ngóng cùng trông 
Khi về chỉ thấy đồng không tre già 

Đường về Bồ Bản xa không 
Muốn về nơi ấy mà lòng phân vân 
Quê nhà vắng vẻ. Trong sân 
Hàng cây không lá muôn phần nhớ thương 

Phải chi có O Lựu ở đây, nghe tôi đọc chắc O thích lắm. 

Rồi thời gian qua… Trường lớp, bạn bè và những cuộc vui cuốn hút tôi. Tôi đã lớn, đã biết đi xe đạp rồi Honda nhưng làng O Lựu trở thành vùng xôi đậu, mất an ninh. Đôi lần nhớ về O Lựu, tôi ngậm ngùi, chắc O đã có một gia đình êm ấm. 

Năm 1972 mùa hè chinh chiến, gia đình tôi cũng bỏ Quảng Trị mà đi. Và từ đó, tôi không còn dịp quay lại tỉnh lỵ nhỏ bé này. 

Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm nhưng với cái lý lịch không mấy “sạch sẽ”: Ba “ngụy quyền”, anh trai, anh rể đi “cải tạo”, với cái nhìn không mấy thiện cảm của loại Sinh viên “Cách mạng 30” về một cô gái trước 75 hay mặc váy lên giảng đường, đi “lao động Xã hội chủ nghĩa” vẫn áo Pull quần Jean “tàn dư Mỹ Ngụy”, tôi không được bổ nhiệm. Buồn tình tôi bỏ về Đà Lạt, thành phố cao nguyên. Những ngày nằm dài ủ ê nghe thông reo. Chị Cả tôi từ một mệnh phụ đã bước xuống cuộc đời. Đồ đạc trong nhà bán dần hết. Một nách ba con với gánh hàng trên vai, chị tôi vào bán trong Hồ Than Thở. Đây là một thắng cảnh của Đà Lạt. Cạnh đó là Trường Võ Bị Quốc Gia nay đã đổi tên thành Học Viện Lục Quân. Hàng ngày tôi nhìn sang mà lòng ngậm ngùi. Anh rể và anh trai tôi đều xuất thân từ ngôi trường quân sự danh giá này và bây giờ cả hai đều bị lưu đày ở nơi thâm sơn cùng cốc. Cả hai anh đều bị xếp vào loại “ác ôn” khi chọn lựa binh chủng Biệt Động quân với chiếc mũ nâu. Cháu tôi khi chơi đánh nhau vẫn quen mồm “Ranger ranger, kill…kill ”…Khách hàng phần đông là những bộ đội “cách mạng” các miền; thỉnh thoảng có những chuyến xe Saigon của các du khách lãng mạn đi tìm dấu tích của Đồi thông Hai mộ một thuở . Sang hơn hết là xe của những cán bộ cao cấp, những đoàn chuyên gia nước ngoài đi ngoạn cảnh mà họ dùng bằng hai từ tối nghĩa “Thăm quan”. Hàng họ ngoài thuốc lá, bánh kẹo thông thường, chị tôi bày thêm tranh khắc bút lửa, những con cù lần bằng gốc cây… Mặt hàng này du khách hay mua làm kỷ niệm. Tôi thường giúp chị trong khâu bán hàng. 

Buổi trưa, úp mặt vào cuốn “Người xa lạ” của A.Camus, tôi lơ mơ buồn bã. Đang miên man nhớ câu thơ của Vũ Hoàng Chương “Đời tàn trong ngõ hẹp”, tôi giật mình với tiếng reo hớn hở của người bán hàng bên cạnh: “A, khách Tây, khách Tây”. Hầu như các quán hàng đều tỉnh ngủ. Mối “sộp” đây rồi! 

Tính sĩ diện vẫn còn khiến tôi không thể chạy theo chèo kéo khách như những người khác.Thôi thì ngồi yên ngâm nga thơ Nguyễn Công Trứ: “Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất. Hiêu hiêu nhiên điếu Vị canh Sằn”. Các cháu ơi! Dì chịu thôi. Chiều nay chúng ta ăn khoai tây vừa mót được dưới Trại Hầm hôm qua chấm với muối vậy. 

Gạt những người xúm quanh, một ông Tây bước về gian hàng bé nhỏ của tôi, chăm chú nhìn những bức tranh rồi cúi xuống chọn lựa… Lạy Chúa, lạy Phật phù hộ! Chị tôi đang đi thăm nuôi anh rể ở trại cải tạo Sông Mao. Gạo trong nhà đã hết. Trống ngực tôi đập nhanh. Bất ngờ, ông Tây hướng về phía nhóm du khách và reo vang như vừa phát hiện một điều gì kỳ thú: 

- Honey, come here. I saw your village in the picture… 

Người phụ nữ tóc vàng, váy đỏ, dáng dấp Á Đông bước tới. Bà ta có vẻ bồi hồi khi ngắm bức tranh có mái tranh với đụn rơm, cánh đồng, con trâu đang gặm cỏ. Bà ngước lên nhìn tôi chăm chú rồi thảng thốt kêu lên… bằng tiếng Việt: 

- Bé Ti, bé Ti phải không? O Lựu nì! 

Tôi há hốc miệng. O Lựu, người giúp việc năm xưa? Như sợ tôi không tin, người phụ nữ vén tóc trán: 

- Vết sẹo nì. O đây, O đây… 

Chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Sự nhớ thương pha chút tủi hổ làm tôi nghẹn ngào. Tôi gục đầu vào mái tóc O như muốn tìm lại mùi hương thời thơ ấu… 

Phút xúc động lắng xuống, O giới thiệu: “Đây là Tim John, chồng O.” 
Để mặc ông chồng đứng cười hiền ngơ ngác, O kéo tôi ngồi xuống kể chuyện tháng ngày qua: 

Từ giã nhà tôi, O Lựu về làng lấy chồng theo sự sắp xếp của cha mẹ. Chồng O là một anh nông dân hiền lành và chăm chỉ làm ăn. Được hai năm, chưa kịp có con, anh đã chết do một phát đạn ngu ngơ không biết của phe nào khi đang cày bừa trên mảnh ruộng nhà. Rồi làng Bồ Bản chìm ngập trong lửa đạn. Ban ngày lính cộng hòa hành quân bố ráp, ban đêm du kích bò ra hoạt động, dân chúng toàn phải chui hầm. 

Trong một trận pháo kích của Cộng quân, nhà O bị sập. Gia đình chết hết, O bị thương nặng, được máy bay trực thăng của tổ chức Hồng Thập Tự đưa ra Hạm đội cứu chữa. Không còn gia đình, làng mạc tan hoang sau trận chiến mùa hè 1972, O Lựu không còn nơi để trở về. Số phận đưa đẩy, Tim John là người phụ tá bác sỹ điều trị cho O đưa O qua Mỹ và họ trở thành vợ chồng. Năm nay, Tim đại diện cho một tổ chức nhân đạo sang giúp đỡ trẻ em khuyết tật Việt Nam do chiến tranh, O theo chồng về thăm quê hương và tình cờ gặp tôi. 

Vẫn là sự thương yêu chân tình đối với “cô chủ nhỏ” của mười năm trước, O Lựu vuốt ve mái tóc tôi, xuýt xoa khi nắn bóp cơ thể gầy guộc thiếu ăn của “bé Ti”, chảy nước mắt khi nghe anh tôi đi “cải tạo” tận miền núi Hoàng Liên Sơn rừng sâu nước độc và thở dài khi biết chị tôi đang lặn lội đi thăm chồng tù tội. 

Ôi! Vẫn là một O Lựu chơn chất, hiền lành của ngôi làng Bồ Bản xa xưa. 

Lúc chia tay, O tế nhị dúi vào túi áo tôi một cuộn tiền rồi tất tả lên xe. Vẫy tay chào theo, tôi không biết là mình đang mơ hay tỉnh. Lần đầu tiên, tôi nhìn thấy những tờ 100 đô la Mỹ. 

Nhờ số tiền của O Lựu, chị tôi từ giã nghề buôn gánh bán bưng. Chị sang một sạp hàng tạp hóa ở chợ đà lạt, nuôi 3 đứa con ăn học, chờ chồng trở về từ trại giam. 

Sáu năm sau, anh chị cũng ra nước ngoài theo diện HO. Trên đất khách quê người những ngày đầu tiên, anh chị được vợ chồng O Lựu tận tình giúp đỡ. Tiếc rằng do vết thương chiến tranh, O Lựu không thể có con. Vợ chồng O nhận đứa con trai của anh chị tôi làm con đỡ đầu. 

Năm ngoái, tôi lặng người khi nghe chị tôi gọi điện thoại báo tin O Lựu đã qua đời sau một cơn đột quỵ. Ôi! O Lựu, bóng mát trên thiên đường ký ức của tôi, ân nhân của gia đình tôi trong cơn khốn cùng!Tôi khóc O như khóc một người thân yêu nhất./.

Nguồn MTDN


Wednesday, March 29, 2023

Khóc Thầm - Sương Sương

 Click Vào Đây - Nhạc phẩm Khóc Thầm/Ca sĩ Sương Sương

Tuesday, March 28, 2023

Về nhà sau 14 tháng lang bạt giang hồ - Thái Huỳnh


Tôi về ViệtNam đã hơn một năm, từ lúc Covid-19 còn gay cấn và tôi bị cách ly ở Cam Ranh 4 đêm. Lần đi ấy, tôi mệt chưa từng thấy, nhưng bù lại tôi về đến ViệtNam chơi tennis và ăn uống quá đã! 

Giờ đây tôi phải về Mỹ để khai thuế trước April 15 và đi khám sức khoẻ định kỳ và thăm cái nhà tôi có còn không! Đúng ra mỗi 6 tháng tôi phải đi khám sức khoẻ định kỳ, nhưng đã 14 tháng rồi, tôi chưa đi khám! Nhà tôi bị đóng cửa 14 tháng, nhưng Mùa Hè tôi vẫn mở máy lạnh và Mùa Đông tôi vẫn mở máy sưởi nếu không đồ điện tử trong nhà hư hết!  

Hội tennis trong Tao Đàn tiễn đưa tôi về Mỹ.

Từ trái: anh Nho, Thái, anh Tỹ.

Anh Tỹ đang say sưa hát tiễn tôi về Mỹ.

Anh Nho, Thái

Thầy D Trần Minh Bạch và Thái.



Monday, March 27, 2023

Thursday, March 23, 2023

Chuyện ngắn "Bài Ca Của Người Du Tử" - Đoàn Dự

Tôi đậu Cử nhân Luật năm 1971, ít lâu sau thì xin được vào tập sự tại văn phòng của một vị luật sư nổi tiếng, bạn thân với bố vợ tôi. Làm luật sư tập sự thì nhàn, đồng lương tương đối cũng khá. Hàng tuần, đi làm về tôi thường tới Trung tâm văn hóa Nhật ở đường Phan Đình Phùng học thêm tiếng Nhật. Học cho biết vậy thôi, nghề luật sư không đòi hỏi phải biết tiếng Nhật. Sau ba năm tập sự, tôi thi đậu và được Luật sư đoàn công nhận là luật sư chính thức, được phép treo bảng đồng, lập văn phòng riêng.

Chưa đầy một năm sau thì "giải phóng", tôi thôi không làm luật sư nữa mà cũng thôi không đi học tiếng Nhật, bởi vì các trung tâm ngoại ngữ đã đóng cửa. Tôi ở nhà trông nom con cái cho vợ tôi đi dạy, thỉnh thoảng cũng kiếm ăn được chút đỉnh do liên lạc với các trung tâm dịch vụ pháp lý. Người ta đưa các đơn từ, giấy má tiếng Nhật hoặc tiếng Anh đến cho chúng tôi dịch. Tiền bạc trung tâm trả rất sòng phẳng nhưng chẳng được bao nhiêu vì cũng có ít người thuê dịch.
Sau gần 17 năm trời thất nghiệp, may sao đến năm 1992, nhờ chút ngoại ngữ tôi xin được vào làm trong một khách sạn kiêm nhà hàng sang trọng ở đường Đồng Khởi (Tự Do cũ). Tôi giữ chân đón khách, mời họ ngồi vào bàn, ghi những món họ kêu rồi báo cho nhà bếp biết, các cô tiếp viên sẽ bưng ra. Tiền lương khá lắm, đã vậy mỗi cuối tháng chúng tôi còn được thưởng thêm, vợ tôi có vẻ yên tâm lắm.
Một hôm, ông giám đốc khách sạn cho gọi tôi lên văn phòng. Ông chỉ chiếc ghế phía trước bàn giấy trong căn phòng gắn máy lạnh của ông, bảo tôi ngồi rồi lấy gói thuốc Ba số 5 trên bàn mời tôi hút.
- Ông quản lý nói anh biết tiếng Nhật?
- Vâng ạ. Thưa ông giám đốc, ngày trước tôi có học tại trung tâm Nhật ngữ mấy năm, giao dịch cũng được nhưng từ giải phóng đến nay, bỏ lâu rồi nên cũng quên mất nhiều.
- Bây giờ còn sử dụng được  không?
- Vâng, có lẽ cũng được.
- Vậy thì tốt. Công việc tôi cần nhờ anh là thế này anh Trình ạ...
Ông ngừng câu chuyện, quay lại với tay lên chiếc tủ  ở phía đằng sau, lấy hai chiếc cốc bằng pha lê rồi mở một chai Champagne của Pháp, rót ra hai ly, đưa tôi một ly, ông một ly và giơ cao lên:
- Nào, mời anh!
- Mời ông giám đốc.
Tôi ngập ngừng, không hiểu chuyện gì nên chưa dám uống. Ông giục:
- Anh dùng đi. Chúng ta làm  vài ly rồi nói chuyện.
-  Vâng ạ.
Ông lấy trong ngăn kéo ra một gói thuốc lá hiệu Dunhill loại “nhãn đen”  - black label – còn mới nguyên chưa bóc băng garanti, gỡ ra, bảo tôi dụi điếu thuốc lá Ba số 5 đi rồi mời tôi hút thuốc Dunhill “nhãn đen”, ngon nhất trong các loại thuốc lá Dunhill.
-  Uống Champagne của Pháp phải hút thuốc Ăng-lê mới tốt.
- Vâng ạ.
- Nào, mời anh!
- Không dám, mời ông giám đốc.
Chúng tôi cụng ly. Khốn khổ, rượu Champagne dù là của Pháp chăng nữa thì trước năm 1975 đối với tôi cũng đâu có gì là lạ. Vậy mà bây giờ sao tôi thấy nó ngon thế, cứ mát cả ruột. Nhưng cũng hơi sợ, phải có chuyện gì ông giám đốc mới trọng đãi tôi như thế chứ.
Rượu đã ngấm, ông giám đốc nói:
- Trên công ty du lịch họ báo cho tôi biết khách sạn của chúng ta sắp đón một vị khách quan trọng. Ông này người Nhật, muốn đích thân sang xem xét, ký kết hợp đồng gì đó với Tổng công ty điện tư, tôi không biết rõ. Công ty du lịch nhờ chúng ta..., nói đúng ra là họ chỉ thị cho chúng ta phải dùng mọi cách chiếm được cảm tình của vị khách này.
- Thưa ông giám đốc, chúng tôi vẫn tiếp đãi rất lịch sự với mọi khách hàng.
- Đúng thế, tôi hiểu. Khách sạn chúng ta hết sức chiều khách. Nhưng theo tôi biết,  vị giám đốc người Nhật này hình như  đã già nên rất khó tính. Ví dụ trên công ty họ báo cho tôi biết là ông ta chỉ nói tiếng Nhật, không nói tiếng Anh tiếng Pháp hay bất cứ một thứ tiếng nào khác.  Ngoài ra, có lẽ cũng vì tuổi già nên tính nết ông ta khắc khổ, cố chấp, không thích giao thiệp với mọi người…
Xương sống tôi lạnh toát. Tôi hiểu ông giám đốc muốn nói điều gì rồi. Quả nhiên ông ta kết luận:
- Tôi đã bàn kỹ với ông quản lý. Trường hợp này ta phải đưa ra một người lớn tuổi, có căn bản học thức đàng hoàng, nghĩa là ta dùng người trí thức để ông ta nể chứ không thể đưa ra mấy cô chiêu đãi viên trẻ đẹp hoặc một nhân viên thông dịch tiếng Nhật bình thường. Anh đồng ý với tôi chứ?
Đồng ý cái con khỉ! Tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà đồng ý với chẳng đồng ý.
- Dạ vâng, thưa ông giám đốc, tôi nghĩ  như vậy cũng đúng…
- Xét trong khách sạn, tôi với ông quản lý nhất trí với nhau là chỉ có anh phù hợp vơi vai trò đó. Tôi chỉ định cho anh làm công tác tiếp đón khách, giúp đỡ khách sạn. Nếu anh tranh thủ được cảm tình của ông ta, chẳng những khách sạn sẽ có hoa hồng cho anh mà trên  công ty  cũng có phần thưởng. Họ nói với tôi như vậy. Còn nếu anh không làm nên công chuyện…
Ông ta không nói tiếp nhưng tôi hiểu. Nếu tôi làm không được việc thì sẽ bị cho nghỉ việc, về nhà nấu cơm cho vợ với đồng lương giáo viên cấp 3 không đủ sống của nhà tôi, mặc dầu nàng đã từng tốt nghiệp ĐHSP Sàigòn trước năm 75.
- Thưa ông giám đốc, tôi không dám mong được thưởng, nhưng sợ tiếng Nhật lâu không dùng tôi đã quên mất nhiều...
- Không sao, nhớ tới đâu thì dùng tơi đó. Tôi cần cái vốn kiến thức của anh để đối chọi với ông giám đốc người Nhật chứ không phải cần người thông dịch. Nếu chỉ cần thông dịch, tôi hô một tiếng thì thiếu gì người.
Ông ta ghê thế đấy, biết sử dụng cái trí thức của người khác vào công việc của mình chứ chẳng phải tốt. Ai nghĩ ông ta tốt hoặc nghĩ tôi ca tụng ông giám đốc khách sạn là lầm. Tôi không ca tụng. Kiếm được một thông dịch viên tiếng Nhật thì dễ, còn kiếm được một luật sư biết tiếng Nhật để chinh phục cảm tình của một ông già khó tính không phải chuyện dễ.
-  Anh cứ yên tâm, tôi sẽ đích thân theo sát việc này và sẵn sàng cung cấp cho anh mọi phương tiện kể cả tài xế, xe cộ và các thứ khác. Dứt khoát anh phải tranh thủ bằng được cảm tình của ông ta.
- Vâng, thưa ông giám đốc, tôi sẽ cố gắng.
Tôi dợm đứng dậy. Ông giám đốc ngăn lại, tìm các giấy tờ trên bàn:
- À này, họ cho tôi biết tên ông ta là Kwann Tae Palms... Ủa, cái giấy trên công ty họ ghi tôi bỏ đâu mất rồi…- À đây, anh nhớ cho rõ, chỗ nào tôi cũng ghim sẵn người của ta, họ sẽ hậu thuẫn cho anh một cách tốt đẹp.
Rồi ông hỏi tôi:
- Anh đã có áo vest, cravát nọ kia chưa nhỉ?
- Thưa có.
- Vậy thì tốt. Anh cầm giấy này xuống phòng kế toán, bảo cô kế toán trưởng tôi quyết định ứng trước cho anh hai tháng lương. Đây, giấy tạm ứng đây. Nếu công việc tốt đẹp sẽ tính  vào tiền hoa hồng.
- Vâng ạ, cám ơn ông giam đốc.
Tôi đi, tay cầm mảnh giấy. Đầu óc tôi suy nghĩ mông lung. Kỳ lạ, lại sao ông giám đốc Nhật lại tên Kwann Tae Palms, cái tên chẳng giống với Nhật mà cũng chẳng giống với Tàu. Theo tôi hiểu, người Nhật thì phải là Watanabe, Sabura, Saburo, Yamamoto, Fuda, Fudo, Honda, Yamaha, Suzuki..vv... Riêng cái họ Palms thì lại giống với Mỹ. Ngay đến cái tên cũng khó hiểu như thế chẳng trách ông ta khó tính, lẩm cẩm là phải. Coi chừng tôi bị mất việc dễ như chơi. Một luật sư, bao nhiêu công phu học hành, đi làm thằng bồi khách sạn hầu hạ người ta, ăn cơm thừa canh cặn vậy mà chỉ lo mất việc, vợ con sẽ đói.
●
Hôm sau, tôi và anh phụ tá được chiếc xe du lịch màu trắng gắn máy lạnh đưa ra phi cảng, đón ông giám đốc Nhật tận chân cầu thang máy bay. Đây là ngoại lệ. Theo tôi hiểu, đáng lẽ chúng tôi phải đón ở phía trong, sau khi ông ta đã làm thủ tục, khám xét, trình các giấy tờ.
Sau cái đưa mắt “ra hiệu ngầm” và hơi liếc mắt kín đáo về phía đằng sau của cô tiếp viên phi cảng, tôi rất ngạc nhiên: Ông giám đốc Nhật trông hãy còn trẻ, chỉ trạc ngoài bốn mươi ngang với tuổi tôi, gương mặt già dặn, có thể nói là rất có duyên. Nước da ông ta ngăm ngăm đen, mắt hai mí trông rất nhanh nhẹn chứ không một mí như mắt người Nhật hay người Đại Hàn. Đặc biệt, ông ta ăn mặc theo kiểu du lịch, áo sơ mi sọc chìm, quần Jeans, áo bỏ trong quần, sợi dây nịt to bản bằng da cá sấu, giầy Adidas màu trắng. Ôi cha, tôi thấy ông ta đẹp trai quá, không già nua, khắc khổ một tí nào cả.
Anh phụ tá đỡ chiếc túi xách trong khi tôi cúi đầu thật thấp theo kiểu người Nhật, nghĩa là mình cứng đong đong, cúi người theo hình thước thợ,  tay chắp trước ngực,  cố nặn ra từng tiếng Nhật :
- Kon ni chi wa! I ras shai ma se? Ha ji me ma shi te!
(Xin kính chào ngài. Ngài đi đường bình an chứ ạ? Chúng tôi rất vui mừng được đón tiếp ngài).
Ông ta ngớ người nhìn tôi, hơi nhíu mày dường như suy nghĩ điều gì, sau đó khẽ nhún vai, quyết định cũng chắp hai tay, cúi đầu thật thấp, chào lại:
- Konnichiwa! Hajimemashite!
(Xin kính chào ông! Tôi rất vui mừng được gặp ông!)
Giọng ông ta nhanh và mạnh, tất nhiên thông thạo như... tiếng mẹ đẻ chứ không ỷ ạch như tôi. Tôi đoán tôi nói hay quá nên thấy ánh mắt ông ta có gì vui vẻ, tinh nghịch, pha lẫn nụ cười. Tôi lại hăng hái “nặn” tiếp và tự giới thiệu:
- Wa ta shi wa Trinh de su, ho te ru Y…  Do zo yo ro shi ku!
(Thưa ngài, tôi tên là Trình, nhân viên khách sạn Y... rất sung sướng được cử đến đây đón tiếp ngài!)
Nét mặt ông giám  đốc Nhật hình như vui hẳn lên. Ông mỉm  cười nhìn tôi có vẻ thân thiện, sau đó cũng tự giới thiệu :
- Watashi wa Kwann desu, dozo yoroshiku!
(Thưa ông tôi tên là Kwann, rất sung sướng được cử đến đây gặp ông).
Tiếng Nhật dùng ý giống như tiếng Việt hay tiếng Tàu, nhân xưng đại danh từ “tôi” và “chúng tói” nhiều khi dùng chung với nhau, những tiếng như irasshaimashita và yoroshiku vừa có nghĩa là đón tiếp lại vừa có nghĩa gặp gỡ, tùy câu sử dụng. Hừ, lạ thật, tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà ông ta nói rất sung sướng được cử đến đây “gặp” tôi? Ngoài ra, tôi để ý thấy những câu ông ta dùng đều bắt chước tôi đúng y chang nhưng thu gọn lại, nhanh và thông thạo hơn. Tại sao ông ta chọc ghẹo tôi với ánh mắt hóm hỉnh như vậy? Tôi nói tiếng Nhật có gì sai sót chăng?
Kiểm tra và làm thủ tục tại khu hải quan tương đối đơn giản do có “người của ta” xong, chúng tôi ra xe. Ông giám đốc Nhật đi lầm lối khác, tôi đưa tay lễ phép:
- Ko chi ra e do zo!
(Xin mời ngài đi lối này)
Ông khách giật mình ngửng lên, vui vẻ :
- Arigato gozaimasu!
(Vâng, xin cám ơn)
A, bây giờ thì ông ta không “bắt chước” tôi nữa. Tôi thấy có cảm tình với ông ta. Rõ ràng là ông ta mau mắn, lịch duyệt, không già nua khắc khổ như ông giám đốc khách sạn đã cho biết.
Anh tài xế đã đợi sẵn bên cạnh chiếc xe, vội vàng mở rộng các cửa mời mọi người lên và xếp va ly vào phía đằng sau. Ông giám đốc ra hiệu cho tôi ngồi bên cạnh ông ta, anh phụ tá ngồi bên trên với tài xế. Sau đó chiếc xe chuyển bánh lướt êm, máy lạnh mát rượi.
Xe chạy qua cổng Phi Long, vị khách luôn luôn nhíu mày nhìn những tấm bảng quảng cáo  “vĩ  đại” có vẻ suy nghĩ. Cặp mắt ông ta đăm chiêu, tò mò nhìn từng gốc cây, từng ngôi nhà cao tầng hiện đang xây cất hoặc đã xây cất ở hai bên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa tức Công Lý cũ, không hiểu ông ta thấy nó như thế nào so với bên Nhật.
Tôi nhẹ nhàng lấy gói Ba số 5 và chiếc hộp quẹt ga mới tinh mang lô-gô của Công ty du lịch Việt Nam, lễ độ mời khách :
- lp pon i ka ga de su ka?
(Xin kính mời ngài hút thuốc?)
Ông ta giật mình quay lại, nhíu mày khe khẽ lắc đầu:
- Kekko desu, arigato!
(Không, tôi không hút, xin cám ơn!)
Đoạn, không hiểu nghĩ sao, ông ta cầm lấy gói thuốc ngắm nghía hồi lâu rồi bỗng ngửng lên nhìn tôi:
- Do you usually smoke this kind of Three fives cigarette?
Ôi chao, đó là một câu tiếng Anh với nghĩa: Các ông có hay hút loại thuốc lá Ba Số Năm này không. Vậy thì ông ta cũng nói tiếng Anh đấy chứ đâu phải chỉ dùng tiếng Nhật một cách cố chấp? Tôi sung sướng quá, bèn khẽ lắc đầu nói như cái máy:
- Oh no, sir, we don't.
Ồ không, thưa ngài, chúng tôi không hút - tôi dùng tiếng “we” - chúng tôi - một cách tổng quát chứ không dùng tiếng “I”  riêng rẽ. Ông ta hỏi tại sao, tôi đáp “Because...”, rồi cũng chẳng biết “because” thế nào nên bèn trả lời một cách thành  thật:
- Because this kind of cigarette is more and more expensive than our salary. It’s out  of our ability.
Ý tôi muốn nói bởi vì loại thuốc lá này rất mắc so với tiền lương của chúng tôi, vượt quá khả năng của tôi.  Vị khách bật cười rồi tự nhiên khẽ vỗ vai tôi thân mật như một người bạn. Tiếng Anh ông ta dùng còn thông thạo hơn cả tiếng Nhật mẹ đẻ của ông ta nữa:
- Ông bạn thân mến, ông bạn nghèo lắm phải không?
Tôi lắc đầu:
- Không, tôi có công ăn việc làm, không quá nghèo nhưng cũng không nghĩ rằng tôi giàu. Chúng tôi tiết kiệm tiền bạc.
Vị khách trẻ tuổi gật đầu:
- Tôi hiểu. Tôi cũng có vài người bạn Việt Nam ở hoàn cảnh của ông. Thỉnh thoảng tôi có gửi quà sang giúp họ.
Chà chà, tay này được quá, người Nhật mà thông cảm với hoàn cảnh của người Việt Nam,  thỉnh thoảng gửi tiền sang giúp thì thật là một kẻ có lòng.
Xe chạy ngang qua phía trước Nhà khách Thống Nhất tức Dinh Độc Lập cũ, phía bên trái cách không xa lắm là Nhà thờ Đức Bà. Vị khách ngắm nhìn ngôi nhà thờ lớn nhất miền Nam, gật đầu có vẻ bằng lòng. Sau đó tự nhiên ông ta hỏi:
- Tôi đoán trước năm  75 ông bạn là một luật sư?
Tôi giật mình kinh ngạc:
- Vâng, trước đây tôi theo ngành Luật. Nhưng tại sao ngài biết điều đó?
Ông ta cười, trả lời:
- Tôi là một nhà tiên tri. Tôi biết những điều người khác không biết.
Xe về tới đường Đồng Khởi và từ từ táp vào lề đường trước cửa khách sạn. Các cô tiếp viên ra đón, xách giùm va ly cho khách. Đích thân ông giám đốc cùng nhiều người khác dẫn vị khách lên lầu, giới thiệu từng ưu điểm của căn phòng hạng nhất sang trọng.
Lúc tôi xuống, ông giám đốc đứng lại chờ ở chân cầu thang, thân mật vỗ vai tôi :
- Khá quá, cậu được việc quá. Tôi đã nghe báo cáo đầy đủ. Từ nay tôi cử cậu đặc trách theo sát ông ta. Công việc đâu đấy xong xuôi kế toán sẽ tính hoa hồng cho cậu. Cả trên công ty cũng sẽ thưởng nữa, họ không quên đâu.Nếu họ quên tôi đòi giùm cho.
- Vâng ạ, cám ơn ông giám đốc.
Kể từ hôm ấy tôi luôn luôn đi kèm với vị khách Nhật. Hình như đối với tôi ông ta cũng có cảm tình nào đó đặc biệt. Mỗi lần tới các cơ quan, đáng lẽ tôi phải ngồi trên chiếc ghế ở phía sau lưng như một thông dịch viên, nhưng ông ta giới thiệu tôi là một luật sư, cho phép tôi ngồi bên cạnh để vừa thông dịch vừa bàn bạc chuyện này chuyện khác với ông ta.
Đi dự những cuộc họp như thế, tôi thấy người nước ngoài họ khôn lắm, có những điều mới nhìn mình tưởng họ dại, sự thực là họ rất khôn, nhường một bước để nhảy mười bước. Trong khi đó, về phía bên mình, tôi không nói họ dại nhưng nói họ lanh. Lanh một cách láu cá vặt theo kiểu “thắng lợi tinh thần” trong A.Q Chính Truyện của Lỗ Tấn. Toàn những thầy dùi cấp dưới “cố vấn” mà cứ tưởng là mình giỏi lắm, thông minh lắm. Quan hệ quốc tế không thể dùng những hạng ngu dốt. Phải có kiến thức, phải có trí tuệ, nếu không, được lợi về sợi dây thừng thì sẽ mất cả con trâu. Gặp những trường hợp như thế tôi chỉ im lặng. Tôi không có quyền được góp ý kiến với họ. Tất cả các ông bên phía Việt Nam đều biết tôi là một anh bồi khách sạn nhưng biết tiếng Nhật, nể khách thì họ cho tôi được ngồi cùng bàn với họ theo tính cách “quan sát viên” vậy thôi.
Một lần, thấy họ “khôn ngoan” quá, lúc về, tôi kể cho vị khách nghe một đoạn trong Tam Quốc Chí - một tác phẩm văn học cổ điển của Trung Quốc rất quen thuộc với người Việt Nam. Tào Tháo dàn 83 vạn quân trên sông Trường Giang, chuẩn bị đánh chiếm Đông Ngô. Chu Du, đại tướng Đông Ngô muốn dùng hỏa công  phá giặc nhưng lại sợ các chiến thuyền Tào riêng rẽ, đốt không hết được, bèn nhờ Bàng Thống xúi cho Tào Tháo kết các thuyền lại với nhau. Tháo không phải dại nhưng lúc ấy quân Tào không quen thủy thổ, say sóng, hay bịnh. Bàng Thống “xúi khôn” là nên dùng vòng sắt kết các thuyền lại với nhau, lót ván lên trên, người và ngựa đều đi được, quân sẽ hết bệnh. Tào Tháo mừng lắm, nghe lời. Bàng Thống trở về, ra tới bờ sông, bị một người nắm áo giữ lại: “A, anh này gớm thật, dám xúi Tào Tháo kết thuyền lại cho Chu Du đốt! Tháo nó ngu, bộ anh tưởng chúng ta cũng ngu, không ai biết mưu kế của anh hay sao?”. Bàng Thống giựt mình ngửng lên, nhìn ra thì thấy đó là Từ Thứ.
Kể xong, tôi kết luận:
-  Đất nào cũng có kẻ sĩ, nước nào cũng có kẻ sĩ. Chẳng qua là cái vận mệnh nước tôi, kẻ sĩ bị coi như rơm như rác. Nếu thấy ông này ông nọ của chúng tôi ngu dại, xin các ông đừng nghĩ chúng tôi hết người.
Ông ta khẽ gật:
- Có, tôi hiểu. Tôi nghĩ đó là một trong những điều đáng buồn của nước các ông. Chúng tôi muốn làm ăn một cách tương xứng, không muốn "đốt" ai cả. Nhưng theo quy luật làm ăn, nếu họ tự đốt chính họ thì họ phải chịu.
Vị khách lâu nay gần như chỉ nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật.
Một hôm, ông ta mua tặng tôi một chiếc đồng hồ Seiko Five giá 45 đô la tức hơn năm trăm ngàn đồng Việt Nam. Tôi bật cười nói đùa:
- Đây là “phẩn thưởng” cho sự im lặng của tôi?
Ông ta cũng cười, lắc đầu:
- Không, ở Việt Nam trí thức bị cho nằm chơi, chẳng ai dùng cả. Dù không cần thưởng thì các ông vẫn phải đóng vai trò im lặng.
- Vậy thì tôi có đồng hồ của tôi rồi.
- Nó đã cũ, ông nên dùng chiếc mới và giữ nó làm kỷ niệm giữa tôi với ông.
- Vâng, xin cám ơn ông.
Việc ký kết hợp đồng giữa ông ta với phía Việt Nam tiến triển tốt đẹp. Tôi nhận được phong bì “ứng trước” do ông giám đốc khách sạn trao. Ông giám đốc bảo tiền hoa hồng của tôi khá hậu, ông ứng trước một số để tôi có tiền tiêu xài. Ngoài ra, ông khách Nhật cũng cho biết chỉ còn ở lại đây hai ngày nữa, tức sáng Thứ hai ông sẽ lên máy bay về nước.
Hôm đó là chiều Thứ bảy, một buổi chiều Sài Gòn thật đẹp. Mọi việc đã xong xuôi, vị khách Nhật hình như hơi rảnh. Ông ta nhìn qua khung cửa kính, có vẻ suy nghĩ rồi bảo tôi :
-  Ông bạn luật sư thân mến - ông vẫn nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật - tôi sắp về nước. Tôi nghe nói ở bên Việt Nam có món  “thịt cầy” (dog-meat) ngon lắm. Ông làm ơn dẫn tôi đi ăn đi.
Tôi kinh ngạc trợn tròn mắt:
- Thịt chó? Ý ông muốn nói đó là... đó là… món thịt của con chó?
- Đúng vậy, thịt của con chó.
Đoạn, ông ta nói tiếp:
- Theo tôi hiểu, nhà văn Trung quốc Lâm Ngữ Đường (tên tiếng Anh: Lin Yutang) có lẽ cũng rất thích món thịt cầy nên ông ta viết một truyện ngắn rất hay lấy tên là  “Tướng Quân Thịt Chó" (tên truyện của Lâm Ngữ Đường: The Dog-meat General), tôi có đọc qua.
Tôi như rơi từ trên trời xuống đất. Mặc dầu là dân Thái bình Thái lọ, rất khoái  món “nai đồng quê” nhưng tôi giải thích  với vị khách Nhật rằng các quán “nai đồng quê" không phải là nhà hàng sang trọng, nếu tôi dẫn ông ta đến đó, lỡ có chuyện gì xảy ra tôi sẽ phải chịu trách nhiệm.
Tôi giải thích:
- Ngoài món  “dog-meat”, người Việt Nam  chúng tôi còn có các món khác rất ngon như ếch chiên bơ, cua rang muối, rắn xào lăn .. vv..., chúng ta nên đến đấy thì tốt hơn là đến các tiệm  dog-meat.
-  Oh yes! Very good! Nhưng chỉ có ông với tôi đi thôi, và tôi lái xe.
Ôi chú mẹc ơi, tôi lại như người rơi từ trên trời xuống đất lần nữa. Nói thế nào ông ta cũng không đồng ý, tôi bèn báo cáo chuyện này với ban giám đốc. Ông quản lý lắc đầu, lè lưỡi :
-  Chết, người nước ngoài mà lái xe trên đường Sài Gòn thì coi như tiêu tùng tính mạng. Ông ta có biết đường đâu mà lái. Thôi, ông Trình cố nói khéo khéo, dành lấy tay lái, đừng để ông ta lái.
Tôi nói tôi lái, ông khách Nhật đồng ý vì không thích có người tài xế đi theo. Ngoài ra ông ta cũng mỉm cười khi nghe tôi kể lại lời ông quản lý.
Chúng tôi tới quán Thanh Sơn  ở đường Nguyễn Cư Trinh gần rạp Hưng Đạo. Đây là hậu thân của quán Ba Thừa ở đường Bùi Viện ngày trước. Thanh Hải, Ba Thừa trước ngày giải phóng rất nổi tiếng về món la-de đặc - la-de ướp lạnh đến mức đông lại, phải vỗ vỗ đáy chai mới chảy ra, không phải bỏ đá - và những món đặc sản miền Nam như cua rang muối, ếch chiên bơ như đã kể trên.
Chúng tôi đang ăn, ông khách Nhật luôn luôn tấm tắc khen ngon thì một bọn trẻ bán thuốc lá, bán vé số biết ông là người nước ngoài nên bu lại mời mua. Ông khách lấy một gói Ba số và đưa tờ năm đô la. “Nô, nô, cái này hơn năm chục ngàn, cái này có mười mấy ngàn, không có tiền thối, nô, nô…”. Ông ta ra hiệu cho cả, tụi nó mừng rỡ thánh kiu  rối rít rồi kéo nhau đi. Một đứa khác tới trễ không được chia, bèn giơ cả xấp vé trước mặt ông ta, mời mua bằng được. Ông lắc đầu nhưng nó cứ năn nỉ và tì cả người như nằm trên bàn để “ăn vạ”. Tôi nói:
- Ông này sắp về nước, không mua vé số đâu em ạ.
Cậu thanh niên chạy bàn hình như con trai ông bà chủ tiệm, đi ngang qua bèn bợp tai cho nó một cái, đuổi nó ra ngoài. Lúc nó đứng dậy, ôi cha, khuỷu tay nó loạng quạng thế nào đụng phải dĩa lươn um, đổ ráo xuống quần tôi. Nóng thì không nóng lắm nhưng bẩn, nhoè nhoẹt. Tôi cáu tiết, đứng rột dậy không biết phải làm cách nào:
- Thấy mẹ người ta rồi! Đã bảo mà, làm thế nào bây giờ?
Thằng bé cũng lúng túng, đứng giương mắt nhìn. Cậu con trai ông bà chủ tiệm lại bợp tai cho nó một cái nữa rồi kêu người nhà ra thu dọn và đem  nước lau cho tôi.
Ông khách vẫn ngồi im quan sát. Thấy việc đâu đấy xong xuôi, tôi đã đỡ bực, ông mỉm cười hỏi:
- Bạn vừa mới nói hai tiếng “thấy mẹ”. Vậy “thấy mẹ” là gì, một tiếng lóng (a slang) hay một câu chửi (a rebuke)?
Đến bố tôi cũng không biết “thấy mẹ” là một tiếng lóng hay một câu chửi. Đang ấm ức về việc chiếc quần  bị bẩn, tôi trả lời đại thấy mẹ là ... “see mother”!
-  Oh no, no, it isn't. – Ông ta cãi, sau đó giải thích - In Vietnamese, “thấy mẹ” ,  it means...
Tôi rất ngạc nhiên, ông ta nói tiếng Anh nhưng phát âm hai tiếng “thấy mẹ” rất chuẩn, đúng giọng như một người Việt  Nam. Tôi hỏi lại:
- Do you understand Vietnamese?
Ông ta cười lớn và xổ ra… một tràng tiếng Việt, thông thạo như người Việt Nam:
- Hiểu chứ sao không hiểu! Bởi vì tao là một thằng Việt Nam chính gốc, đếch phải người Nhật!
Và ông ta lại cười:
-  Mày ngốc lắm Trình ạ. Tao nhận ra mày ngay từ lúc vừa mới gặp ở chân cầu thang máy bay còn mày thì không nhận ra tao.
Một hình ảnh nào đó từ hồi còn đi học bỗng hiện ra trong trí óc tôi:
- Cậu… cậu là thằng Quân đen?
- Chứ còn thằng chó nào vào đấy nữa! Bạn bè, thật, học với nhau từ lớp Đệ Thất Nguyễn Trãi sau đó lên Chu Văn An mà mày không nhận ra tao!
- Xin lỗi, tớ trông cậu cũng quen quen nhưng cứ yên chí cậu là một tay giám đốc người Nhật. Hơn nữa cậu lấy tên là Kwann Tae Palms thành thử tớ lầm.
- Có gì lạ đâu, đây nhé, cậu biết tên tớ là Phạm Thế Quân. Lúc sang Mỹ, nhập quốc tịch Mỹ, tớ tinh nghịch đổi cái tên Phạm Thế Quân thành Quân Thế Phạm, tức “Kuann Tae Palms” chứ chẳng có gì khó.
- Cậu quốc tịch Mỹ, không phải quốc tịch Nhật?
- Không, tớ quốc tịch Mỹ, vợ tớ người Nhật.
Quân kể cho tôi nghe, hồi đó học xong kỹ sư Phú Thọ, hắn được bổ đi làm trưởng ty công chánh tại một tỉnh khỉ ho cò gáy ở ngoài miền Trung. Ngày “giải phóng” 30 tháng Tư, gặp tàu, hắn nhảy xuống tàu, sang được bên Mỹ, vừa đi làm vừa đi học về ngành kỹ sư điện tử. Trong lớp hắn học có một cô sinh viên người Nhật cũng chuyên về ngành điện tử. Hai bên yêu nhau, sau khi tốt nghiệp, có công ăn việc làm hắn bèn cưới cô ta làm vợ. Hai vợ chồng làm trong một công ty Mỹ, hắn rất siêng năng nên leo dần lên chức vị pnó giám đốc. Vợ hắn sinh đứa con gái đầu lòng, bố mẹ vợ hắn viết thư sang giục vợ chồng hắn đừng làm bên Mỹ nữa, về sống bên Nhật, bố vợ hắn sẽ thu xếp cho hắn làm giám đốc một trong các công ty của ông. Thì ra, bố vợ hắn là một nhà tư bản, tổng giám đốc một công ty lớn chuyên về điện tử tại Nhật. Bây giờ vợ hắn đã sinh đứa thứ hai rất xinh, con trai, còn hắn thì vẫn làm giám đốc một công ty của bố vợ hắn.
- Ông già đã lớn tuổi nên cẩn thận lắm cậu ạ. Cử tớ sang Việt Nam xem xét, ký kết hợp đồng nhưng lại sợ tớ là người Việt Nam, phía bên này sẽ ỷ y, bởi vậy ổng ra lệnh cho tớ phải nói toàn tiếng Nhật và đánh tiếng rằng ông giám đốc Nhật đã già nên rất khó tánh.
- Tớ hiểu, người nước ngoài họ vẫn cẩn thận như vậy.
Hắn cười:
- Tiếng Nhật thì tớ cũng tà tà như cậu vậy thôi, do vợ tớ dạy. Sang bên này, gặp cậu tớ mừng lắm. Không ngờ sau bao nhiêu năm trôi nổi, hai thằng chó chết tụi mình lại gặp nhau.
- Tớ mới chó chết, cậu không chó chết. Cậu tạo sự nghiệp bằng hai bàn tay, không phải là đứa chó chết.
Hắn thở dài:
- Nhiều lúc suy nghĩ tớ thấy buồn lắm, một đời du tử...
Và hắn nói tiếp:
- Tớ xin lỗi cậu về việc đã làm mặt xa lạ, bữa nay mới bày ra chuyện  “dog-meat” để có thì giờ gặp riêng cậu. Tớ muốn nhờ cậu một việc...
- Việc gì vậy? Bạn bè với nhau từ nhỏ, cậu nhờ việc gì tớ cũng sẵn lòng.
Hắn lại suy nghĩ và khẽ thờ dài:
- Cậu biết đấy, tớ còn một bà mẹ già. Năm nay bà cụ tớ đã tám mươi mốt tuổi, hai mắt đã lòa, ở với ông anh tớ ở Nam Định ngoài Bắc. Tớ thương mẹ tớ lắm…
- Chuyện, tụi mình toàn những thằng nghèo khó như nhau, đứa nào mà chả thương bố mẹ.
- Cám ơn cậu. Ngày  trước hồi mới di cư gia đình tớ cũng nghèo như gia đình cậu. Bà cụ tớ thắt lưng buộc bụng, buôn bán mấy trái cam trái quýt với đứa em gái tớ ở chợ Bà Chiểu, nuôi tớ ăn học. Tớ mới tốt nghiệp, có thể nói là chưa báo đền gì được thì việc đổ vỡ to lớn xảy ra, tớ gặp tàu bèn nhảy xuống tàu, sang sống một mình bên Mỹ, bỏ mẹ tớ với đứa em gái ở lại. Điều đó làm tớ rất đau lòng…
Hắn tiếp:
- Cách đây mấy năm tớ có viết thư về quê liên lạc được với ông anh tớ. Từ đấy tớ luôn luôn gửi quà về để ông ấy có phương tiện phụng dưỡng mẹ già. Nhưng tiền bạc là một chuyện mà tình cảm gia đình lại là chuyện khác…
- Đúng vậy, rồi sao nữa?
- Tớ định nhờ cậu đem một số tiền khá lớn ra Bắc, đưa cho ông anh tớ, giúp đỡ ý kiến để ông ấy sửa sang nhà cửa, xây lại ngôi từ đường thật khang trang theo ý muốn của bà cụ, và nói với cụ rằng tớ hứa nội trong năm tới thế nào cũng thu xếp công việc, đem vợ con về Việt Nam thăm mẹ. Tớ đã nói với tay giám đốc khách sạn là nhờ cậu ra Hà Nội xem xét giùm tớ tình hình giấy tờ ngoài ấy xem sao, có cần gì sửa chữa không. Tay giám đốc đồng ý lắm. Việc đó dễ, dưới con mắt của một luật sư như cậu,  chỉ liếc qua là cậu biết liền có khi còn hơn tớ nữa. Nhưng vấn đề chính là cậu về Nam Định đưa tiền giùm cho ông anh tớ. Sáng mai cỡ chín giờ tớ đem tiền tới nhà cậu, ở chơi với cậu một ngày, tụi mình nói chuyện thật nhiều rồi sáng Thứ hai tớ lên máy bay về Nhật.
Và hắn hỏi tôi:
- Bà cụ cậu vẫn mạnh khoẻ chứ?
-  Cám ơn cậu, bà cụ tớ còn nhưng năm nay đã bảy mươi chín tuổi, kém bà cụ cậu hai tuổi, không được khỏe lắm. Thỉnh thoảng cụ vẫn nhắc cậu Quân không biết bây giờ ở đâu, tớ nói có lẽ ở bên Mỹ.
- Thế này nhé, lát về cậu đưa tớ ghé vào thăm cụ một chút cho nhớ nhà rồi mai tớ đến. Nhà cậu vẫn ở Tân Định?
- Ừ.
Hôm sau hắn tới. Buổi trưa, ăn cơm xong, hắn ngồi một mình ngoài hiên trên lầu bên thành lan can. Nhà tôi vắt hai ly cam tươi bưng ra. Hắn mỉm cười nhìn tôi, khe khẽ lắc đầu :
- Chị cẩn thận giống hệt nhà tôi ở bên Nhật... À này, Trình, cậu có còn nhớ bài “Du tử ngâm” của Mạnh Giao ngày trước cụ Tú Anh dạy tụi mình hồi lớp Đệ Thất, Đệ Lục ở Nguyễn Trãi, sau đó lên Chu Văn An không nhỉ?
- Nhớ chứ, cụ Tú khó muốn chết, đứa nào không thuộc, không nhớ mặt  chữ cụ mắng quá trời quá đất, đứa nào mà chả thuộc.
Tay hắn đang cầm chiếc que, hắn gõ nhè nhẹ vào thành lan can và đọc khe khẽ:
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
(Sợi chỉ trong tay mẹ hiền
May thành chiếc áo trên thân người con  du tử
Lúc con ra đi mẹ may thật kỹ
Vì sợ lâu ngày con chậm trở về
Nào ai dám nói một tấc lòng  của cỏ
Có thể báo đáp được ánh dương của ba tháng xuân?)
- Bài thơ hay quá cậu nhỉ. Mỗi lần nhớ tới tớ lại ứa nước mắt cậu ạ.
- Chuyện, thơ Đường, ngay đến cụ Nguyễn Du còn phải mượn ý viết thành câu thơ trong truyện Kiều: “Dám đem tấc cỏ báo đền ba xuân” huống chi tụi mình.
Hắn thở dài :
- Ở bên Nhật, hễ bận thì thôi, cứ lúc nào rảnh đầu óc tớ lại nghĩ tới hình ảnh ba mẹ con tớ lúc mới di cư vào Nam. Ông cụ tớ mất hồi gia đình còn ở ngoài Bắc. Mẹ tớ một mình tần tảo nuôi tớ ăn học. Con Chi, em gái tớ chắc cậu đã biết, lúc ấy còn nhỏ, mới lên bốn còn tớ lên sáu. Mẹ tớ trước bán bánh cuốn, sau bán trái cây ở chợ Bà Chiểu. Lúc tớ thi đậu vào lớp Đệ Thất trường công là lúc mẹ tớ đã dành dụm được chút đỉnh, không còn phải bữa đói bữa no nữa. Vậy mà cậu thấy đấy, trong túi tụi mình có đứa nào có lấy được vài đồng đâu. Thỉnh thoảng bà cụ tớ hay bà cụ cậu cho được một đồng thì hai đứa tụi mình chia nhau uống chung một ly nước mía. Bà cụ tớ quý cậu lắm. Nay hai mắt cụ đã lòa...
- Có, tớ biết. Hồi ông anh cả vào đây đón cụ ra Bắc tớ có đi tiễn. Ông anh mua vé xe lửa Thống Nhất, ghế ngồi, bảo sẽ xuống ga Nam Định. Thấy đông người quá, trong tàu chật như nêm cối, ghế gỗ cứng ngắc mà lại phải ngồi ba ngày ba đêm không  nhúc nhích nổi, tớ chảy nước mắt. Cụ cũng khóc, đưa hai tay quờ quạng sờ mặt tớ và nói sẽ chẳng bao giờ có dịp gặp lại nữa.Tớ ra ngoài ấy chắc cụ với ông cả mừng lắm….
Quân chớp mắt. Hắn cúi mặt như cố che giấu cảm động, sau đó khẽ thở dài bảo tôi:
- Tớ chỉ lo mẹ tớ mất trước khi tớ về cậu ạ. Bởi vậy ra đấy cậu nhớ lạy mẹ tớ một lạy xin cụ tha thứ cho tớ và nói năm tới thế nào tớ cũng về thăm mẹ.
- Được cậu cứ yên tâm.
- Ngồi ăn cơm với cụ và vợ chồng cậu tớ cảm động lắm. Tớ mong được tự tay xé thịt gà tiếp vào bát cho bà cụ tớ cũng giống như cậu. Mẹ tớ hai mắt đã lòa...
- Có tớ hiểu.
Thế rồi sáng Thứ hai hắn lên máy bay về Nhật thì sáng Thứ ba tôi ra Hà Nội. Tôi đi xe lửa, vé nằm, loại tàu nhanh hai ngày hai đêm, không đi máy bay vì tính tôi tiết kiệm. Những lúc ngồi bên cửa sổ ngắm cảnh núi non hùng vĩ của vùng đèo Hải Vân, đèo Ngang, đầu óc tôi lại miên man nghĩ tới hình ảnh lúc hắn sắp lên máy bay, chúng tôi đưa tiễn. Hắn giơ tay chào tạm biệt “Sayônara!”. Chúng tôi cũng “Sayônara!”. Rồi trong lúc mọi người không để ý, hắn kín đáo chắp tay lạy về phía tôi một lạy. Tôi hiểu ý nghĩa của cái lạy đó nên chỉ khe khẽ gật đầu cho hắn yên lòng, không cần lạy lại. Bây giờ tôi có bổn phận đem cái lạy đó ra ngoài Bắc cùng với lời dặn hắn sẽ trở về. Và đầu óc tôi cứ miên man nghĩ đến bài ca của người du tử:
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y...
Làm con thì phải như vậy. Tôi yêu bài thơ đó lắm.
Đoàn Dự