Thiếu nữ Việt Nam

Thiếu nữ Việt Nam
quá dễ thương

Friday, October 17, 2008

Câu Chuyện Tình Đầy Nghiệt Ngã của anh KQ Đặng duy Lạc

Lạc Mộ: Kỹ niệm về anh KQ Đặng duy Lạc


Cuối Năm 1964, tôi được đưa ra đơn vị đầu tiên Phi Đoàn 114, Không Đoàn 62 Biên Trấn ở Pleiku. Lúc bây giờ tôi Chuẩn Uý Phi Công Quan Sát mới ra trường, anh Lạc Thiếu Uý Phi Công thuộc Biệt Đội Khu Trục. Tôi biết anh Lạc từ dạo đó, nhưng ít có dịp ăn chơi trò chuyện với anh, vì tôi thường tình nguyện đi biệt phái bay hành quân ở các Tiểu Khu thuộc Quân Đoàn II, có khi cả mấy tháng tôi mới về Phi Đoàn một lần. Cuối Năm 1965, tôi rời Không Đoàn 62 đi Mỹ học Khu Trục, và từ đó tôi không gặp lại anh Lạc.

Sau 1975, tôi gặp lại anh Lạc ở Houston Texas, tôi và anh chơi Tennis trong giải Lảo Tướng liên tỉnh Texas San Antonio, Houston, Austin, Dallas, mà tôi là người đứng ra tổ chức giải nầy đầu tiên, tôi và anh thân tình trở lại từ lúc ấy.

Ngày anh Lạc qua đời đột ngột ở Houston, vì bận việc sở tôi không về dự đám tang anh được, tôi rất áy náy. Rồi ngày cúng thất tuần cho anh ở Chùa Linh Sơn Houston, tôi vội vả khăn gói về Chùa Linh Sơn Houston để dự lễ 49 ngày. Trên đường về Chùa Linh Sơn Houston, tôi ghé qua nhà KQ62C Nguyễn đạm Thuyên, tôi nhờ Thuyên đưa tôi ra nghĩa trang thăm mộ anh Lạc. Thuyên đưa tôi ra nghĩa trang và chỉ tôi ngôi mộ mới, chưa có mộ bia.

Thuyên nói:
- Mộ anh Lạc đó, mầy cúng đi.

Tôi đốt nhang, kính cẩn nghiêng mình cúng vái. Tôi đang cúng thì chị Lạc và chị Âu đi tới.

Chị Lạc hỏi:
- Các anh làm gì đó?

Tôi nói:
- Tụi tôi cúng anh Lạc.

Chị Lạc kêu lên:
- Mộ anh Lạc đàng kia, đâu phải ở đây!

Tôi nhìn Thuyên kêu Trời, Thuyên cười trừ. Tôi theo Chị Lạc đến ngôi mộ thực sự của anh, tôi lại đốt nhang, nghiêng mình cúng vái. Sau đó chúng tôi về Chùa Linh Sơn dự lễ thất tuần của anh Lạc. Sau lễ thất tuần, tôi vội vả về San Antonio ngũ, để hôm sau còn đi cày. Đêm hôm đó khoảng hai giờ sáng, tôi thức giấc, mở mắt ra tôi thấy cô gái khoảng 35 tuổi, mặt trái soan, mũi dọc dừa, mắt bồ câu, miệng trái tim, tóc xoả bờ vai, dáng điệu thướt tha, cô gái ngồi ở đầu giường tôi.

Cô gái tự giới thiệu:
- Em là cô gái trong mộ anh cúng hồi chiều, anh biết không, người đời không quen biết nhau, gặp nhau bên đường, một cái nhìn, một nụ cười, là có tình ý với nhau rồi! Đàng nầy anh kính cẩn nghiêng mình cúng vái, tình nầy quá sâu đậm với em, giờ nầy em về đây, em cho anh biết, em là gái chưa chồng, còn trinh trắng, anh muốn gì, em cho hết.

Tôi kêu lên:
- Cái ngàn vàng của người con gái, em gìn giữ trên ba mươi mấy năm, mới gặp anh trong phút chốc, em cho anh, làm sao anh dám nhận...


Câu chuyện trên là câu chuyện có thật, tôi đem chuyện nầy kể cho mọi người nghe trong ngày nhóm họ của đám cưới hai con của anh Minh và anh Thuyên. Tuy nhiên phần chót của câu chuyện, tôi có thêm, thay vì nhận cái ngàn vàng của cô gái, tôi nhờ cô gái xui khiến anh Âu về đất liền với anh em, vì lúc bây giờ anh Âu đang ở đảo Guam, tôi cố tình chọc phá anh Âu cho vui. Khi tôi kể xong câu chuyện, anh Thành D nói nhỏ với tôi: “Cái ý mầy không nhận, sao mầy không giao cho tao!”, anh Thành gần như muốn ký đầu tôi vì anh tức tôi quá!

Đó là kỹ niệm của tôi với anh Lạc, hôm nay vợ chồng tôi lên Chùa cúng giáp năm cho thằng cháu ngoại bốn tuổi của tôi, về nhà lòng tôi nặng trĩu, buồn ngũ. Tôi vào laptop, mỡ email của KQ63A Lộc Đại Hàn, tình cờ tôi đọc bài về anh Lạc, cậu chuyện tình đầy nghiệt ngã của đất nước mình thời Thầy D, văn chương chân thành, cảm động, làm tôi tỉnh ngũ và nước mắt tôi lưng tròng, cám ơn Lộc ơi. tth

Sau đây là câu chuyện tình của anh KQ Đặng duy Lạc:



- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

GIÒNG ĐỜI...
Duy Lạc.

Tôi sinh ra vào thế hệ của thập niên 30. Thế hệ của chúng tôi chịu nhiều xáo trộn điên đảo nhất trong giòng lịch sử 60 năm của dân tộc (1930-1990). Chúng tôi may mắn là nhân chứng của nhiều sự hưng vong của bao chế độ và cuối cùng được nhìn tận mắt sự sụp đổ ngoạn mục của chế độ Cộng sản bạo ngược khắp thế giới. Đó cũng là một niềm an ủi cuối đời cho thế hệ chúng tôi, những người chống cộng sản phải bỏ nước ra đi lang thang, bơ vơ, chịu nhiều bất hạnh, mang nhiều nổi đau buồn trên đất khách.
Ngày xưa từ tuổi nhi đồng qua thời niên thiếu, chúng tôi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của luân lý đạo đức Khổng Mạnh qua các tập "Luân Lý Giáo Khoa Thư" ở nhà trường. Trong xã hội lúc bấy giờ, một thời văn chương lãng mạn của các nhà thơ: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Hàng Mạc Tử, Chế Lan Viên.v.v... và nhóm chủ trương Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh đã mang lại cho chúng tôi một ít mơ mộng về tình yêu (Hồn Bướm Mơ Tiên), hay ý thức mơ hồ về các hoạt động cách mạng (Đôi Bạn). Sau đó từ năm 1935-1945, dòng nhạc tiền chiến trữ tình và lòng yêu nước của Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy,Tô Vũ, Đặng Thế Phong.v.v... đã thật sự thấm nhập tâm hồn tuổi trẻ vừa lãng mạn vừa khơi động tình yêu tổ quốc của tuổi thanh niên. Kế đến thế chiến thứ hai vào giai đoạn chót bộc phát dữ dội. Bom đạn của chiến tranh bắt đầu tàn phá quê hương. Nương theo sự thất trận của Nhật, nhiều phong trào yêu nước chống Pháp nổi dậy, cuối cùng đi đến ngày 19-8-1945, ngày toàn quốc khởi nghĩa mà bọn Việt Minh Cộng sản quỷ quyệt cướp lấy công đầu. Và cũng từ hoàn cảnh đó, đám thanh niên thế hệ chúng tôi một số vào rừng, vào bưng, vào chiến khu để theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc. Một số khác vì còn trẻ tuổi, phải bỏ thành phố tản mác về vùng quê để tạm lánh cư.
Cũng như mọi gia đình khác, cha mẹ chúng tôi vội vã bỏ hết gia sản chạy về vùng quê miền Trung. Từ đó đời tôi bắt đầu một khúc quanh: cơ cực cũng lắm, hạnh phúc cũng nhiều, chạy dài suốt một thời niên thiếu. Tôi dần dần yêu thích cảnh sống đồng quê. Say sưa với núi cao, biển rộng, rừng thông, đồi cát, ruộng mía nương khoai với những hình ảnh của đình chùa, miếu mão. Tôi yêu thương làng tôi qua lũy tre xanh. Con đường nho nhỏ thông reo. Ngôi đình cổ kính nằm bên chân đồi. Tôi mê nhất những buổi trưa hè ngồi nghe tiếng thông vi vu, réo rắt một điệu nhạc buồn như tiếng sáo diều từ lưng đồi vọng lại.
Tuổi thơ của tôi thấm đậm tình quê hương từ những ngày tháng êm đềm thơ dại đó.
Những năm đầu kháng chiến, gia đình tôi chưa đến nỗi sa sút. Tôi được đi học tại trường Trung học cấp huyện, cất ngay trong làng. Ở miệt thôn quê thời kháng chiến, sự học hành bị gián đoạn nên học sinh tuy ngồi chung lớp nhưng tuổi tác chênh lệch nhau. Trong lớp "Đệ nhất niên" của tôi có độ mươi cô nữ sinh. Các cô thuộc người làng hoặc từ những làng kế cận đến học. Phần nhiều nữ sinh thuộc gia đình giàu có trong đám hương mục ngày xưa như Chánh Tổng, Xã Trưởng, Hương Lý, Hương Hộ.v.v... Các cô tuy là gái quê nhưng trông cũng xinh đẹp lượt là lắm. Tôi thời đó học hành dốt nát, chỉ thích lêu lỏng ngoài đường. Chuyện nhà trốn tránh, chuyện bạn bè thì mau mắn. Tôi lang thang suốt xóm trên làng dưới, tập đàn ca với đám nữ sinh cùng lớp, ít khi có mặt ở nhà. Công việc nặng nhọc trong gia đình tôi giao cho chú em kế gánh vác. Mẹ già nhiều lúc mắng mỏ rầy la, tôi vẫn trơ mặt thịt. Đã vậy tôi còn tơ tưởng yêu đương. Tôi yêu tha thiết một cô em tên Nga cùng lớp. Em ngồi dãy bàn trước mặt. Tôi còn nhớ chiếc áo chemise lụa mỏng và chiếc quần lãnh đen của em. Em có đôi mắt nhung huyền sâu thẳm như đáy hồ thu mà tôi tự nguyện chết đuối trong đó những lần em quay lại nhìn tôi cầu cứu. Đôi môi em đỏ hồng gợi cảm. Những lúc em ban phát cho tôi một nụ cười cám ơn khi tôi cho cóp bi bài toán là những lần tim tôi như ngừng đập. Em thường liếc xéo tôi mỗi khi tôi trêu chọc. Cái nguýt dài, con mắt có đuôi, kèm theo một nụ cười mỉm của cô gái dậy thì, có lúc là một "message" ưng chịu kín đáo của thời đó.
Thật tình lúc bấy giờ tôi không đoán được Nga có cảm tình gì với tôi chưa. Nhưng riêng tôi, tôi đã mê tít nàng. Cứ mỗi ngày cô em nghỉ học là mỗi ngày tôi thẩn thờ nhớ nhung. Tôi tương tư nàng như Nguyễn Bính tương tư "Cô hàng xóm"
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh dờn...

Tuy yêu thương mê mẩn như thế, tôi chưa dám nói một lời yêu thương cùng nàng. Hồi đó tôi đen đúa xấu trai. Tóc chải bảy ba có thên một chút tango ổ quạ ngay trước trán (thời trang 1945). Tôi gầy đét và cao lêu nghiêu như cây sậy. Thật tình nhìn kỹ tôi chả giống con giáp nào! Tôi chỉ được tiếng "người Sàigòn" và một chút tài mọn về đàn ca hát xướng. Vì vậy, tôi chủ quan nghĩ rằng em đã cảm tình với tôi. Một hôm vào dịp nhà trường tổ chức đi cắm trại qua đêm ở một rừng dừa ven biển. Dĩ nhiên tối hôm ấy có đốt lửa trại và thi đua văn nghệ, giữa mấy trăm học sinh cùng trường. Tôi táo bạo ghi tên tham dự, cốt để chứng tỏ với Nga về khả năng văn nghệ của mình. Đêm hôm đó, trước đám đông đảo học sinh, tôi đơn ca bản nhạc "Nhớ Chiến Khu", một bài ca tủ của tôi, "Còn đâu trong chiến khu trên rừng chiều. Bên đèo tiếng suối reo, ngàn thông réo..." Tôi đang mơ màng vừa ca vừa diễn xuất bộ mặt sầu sầu của anh Vệ quốc Quân nhớ nhà, nào ngờ đến đoạn cao nhất của bài hát, một phần vì khớp, một phần vì nhìn thấy cô nàng đang theo dõi mình, tự nhiên tôi té giọng kim, dứt đoạn, rồi ngừng ngang nửa chừng. Tôi đúng như trời trồng giữa tiếng vỗ tay la ó của đám học sinh. Tôi xấu hổ, tay chân thừa thải, mặt đỏ bừng chỉ muốn độn thổ cho xong. Tội nghiệp Nga, nàng cúi đầu thương hại cho tôi.
Rồi có một lần, chuyện phải đến đã đến, Nga ngỏ lời mời tôi đến nhà nàng chơi vào chiều thứ bảy. Tôi sung sướng nhận lời. Dịp này nhất định tôi sẽ bộc lộ tâm sự với nàng bằng một lá thơ. Mấy ngày liền tôi ngồi nắn nót viết bức thư tình đầu tiên. Tôi còn nhớ rõ bức thư viết dài và hay lắm. Tôi diễn tả mối tình say đắm của mình. Văn chương lãng mạn và ướt át vô cùng. Trong bức thư tôi còn làm dáng về vốn Pháp văn của mình bằng hai câu bất hủ "L'homme sans amour comme La Terre sans Lumière" mà tôi thuổng được ở mấy bức thư tình của bà chị tôi. Chiều hôm ấy, tôi băng mấy cánh rừng dương để đến nhà nàng. Nhà Nga xinh xắn bao quanh bởi một vườn cau và một hàng rào bông bụp tím nhạt. Vườn có nhiều hoa và cây ăn trái. Tôi dạo chơi thơ thẩn trong vườn cùng nàng suốt buổi tối. Nàng bóc bưởi mời tôi ăn. Tôi trèo cây hái khế tặng nàng. Cứ như thế mãi cho đến khi trăng treo đầu ngọn cau và hoa bưởi bắt đầu tỏa hương thơm ngát, tôi mới từ giã nàng. Trước khi về tôi dúi vội bức thư vào tay nàng. Nàng ngập ngừng e thẹn nhận lấy thư tôi.
Sau ngày trao bức thư tình, tôi cảm thấy yêu đời, mơ mộng nhiều hơn. Và trong khi tôi nao nức đợi chờ hồi âm, thì hởi ơi! Hai câu Pháp văn bất hủ tôi viết cho nàng được loan truyền khắp nơi nhất là trong đám nữ sinh. Mấy bà chị họ, mỗi lần gặp tôi đều tủm tỉm cười, làm tôi xấu hổ vô cùng. Tôi loáng thoáng đoán rằng tôi đã lầm và quá chủ quan, chớ nàng không hề yêu thương hay tình cảm gì với tôi. Nàng đã đem bức thư của tôi bêu rếu để làm trò cười. Từ đó tôi không nhìn nàng. Tôi đau khổ hận đời, hận nàng và trốn học luôn...

Cho đến một ngày trước khi xuống tàu bỏ trốn vào Nam, vì vô tình hay cố ý, Nga chận tôi trên con đường làng vắng vẻ, gương mặt xanh xao, ánh mắt buồn buồn. Nàng khóc thật nhiều và giải thích với tôi rằng nàng đã yêu tôi. Chuyện bức thư là lỗi bất cẩn của nàng (Nga cho người bạn gái mượn quyển sách trong đó có dấu bức thư). Nàng trách tôi tại sao bỏ học và trốn tránh không nhìn mặt nàng. Lần đầu tiên tôi run run cầm tay nàng, nhìn sâu vào đôi mắt lệ nhạt nhòa, thổn thức không nói một lời, bởi vì ngày tôi nhận được hạnh phúc tình yêu đầu đời và cũng là ngày tôi xót xa chia tay mối tình học trò ngắn ngủi đó. Ngày hôm đó, tôi đau đớn vĩnh biệt Nga mà chính nàng không hề hay biết.
Con thuyền đưa tôi vào Nam chập chùng giông bão. Giông bão xô dạt con thuyền. Giông bão ngay trong lòng tôi...
Tôi có người em kế, cùng trạc tuổi. Chúng tôi là hai thái cực. Chú Lâm hiền hòa thích sống trong gia đình. Tôi mê cuộc đời hải hồ lang bạt. Lớn lên, hai anh em cùng vào quân đội. Tôi đi lính Không Quân đồn trú tại Pleiku. Chú đi sĩ quan Thủ Đức đóng đồn ở Daksut. Những ngày cao nguyên sôi động, nhiều lần từ trời cao, tôi xót xa nhìn chú bị vây hãm dưới đồn. Anh em tuy đóng quân cùng một vùng nhưng chả bao giờ gặp nhau. Thỉnh thoảng hành quân ngang đồn, tôi bay thấp để chào chú, hoặc liên lạc FM để thăm hỏi sức khỏe và nhắn tin nhà, thế thôi. Vậy mà chú Lâm vẫn vui vẻ sống cuộc đời gian khổ bộ binh. Mãi đến ngày bỏ nước ra đi, chú ra đi một mình không kịp đón gia đình vợ con. Những năm tháng xa quê hương, chú Lâm vẫn sống cảnh đơn lẻ ở một tiểu bang xa lắc xa lơ. Nhưng mấy năm gần đây, chắc có lẽ chịu hết nổi cảnh "Đồn Lẻ Chiều Xuân" chú đã âm thầm bước thêm bước nữa để nếm mùi "một cảnh hai quê". Thật tội nghiệp!

Hôm Tết vừa qua, nhân dịp đi công tác cho hãng ở Hà Nội. Lâm ghé Sàigòn thăm nhà và về làng thăm quê cũ. Một sự việc bất ngờ và cảm động là chú Lâm đã tìm được dấu tích của Nga ngày xưa. Đuợc biết nàng đã trốn ra Bắc năm 1956 và sau ngày Viẽt cộng cưỡng chiếm miền Nam, nàng trở về với quân hàm Đại úy và là vợ lẽ của một ông tướng già Việt cộng. Hiện nay nàng đang ở Sàigòn, khu cư xá sĩ quan Chí Hòa và ông tướng già đã chết. Trước khi trở về Mỹ, Lâm có đến tìm gặp nàng. Nga sững sốt mừng rỡ khi nhận ra Lâm em của tôi. Nàng vui vẻ kể chuyện xưa về tôi với chú Lâm và nói rõ lý do vì sao nàng bỏ xứ ra đi. Trong câu chuyện thăm hỏi, Lâm đã cố khơi lại chuyện tình ngày xưa của chúng tôi. Lâm nói: "Anh tôi vẫn nhắc nhớ về chị." Nàng cúi đầu lặng lẽ, giọng buồn buồn: "Dạ vâng, tôi đoán thế." Và nàng cảm động cho biết người làng đã kể: Có lần tôi một mình lái xe về thăm vườn cũ tìm lại người xưa, và người xưa không còn nữa. Lâm tiếp tục thăm dò: "Chị có biết anh tôi ngày xưa làm gì không?" "Dạ tôi biết, nghe nói anh ấy là một phi công trong Không Lực Cộng Hòa." "Chị có oán hận, căm thù gì chúng tôi không?" Nga lắc đầu cười chua chát, "Tôi không nghĩ đến điều đó, và chẳng bao giờ nghĩ như vậy, nhất là đối với anh ấy..."
Nàng trả lời với đôi mắt mơ màng xa vắng. Chắc có lẽ chú Lâm đã vô tình khơi dậy những kỹ niệm thời học trò của nàng. Những kỹ niệm tưởng như đã chôn vùi dưới lớp bụi thời gian sau bốn mươi năm xa cách.
Và trong buổi chiều hôm đó, theo lời nhật xét của chú Lâm. Nga như "lội ngược giòng thời gian" tìm sống lại quảng đời con gái ngây thơ, cùng với mối tình thơ mộng và đẹp nhất của đời nàng. Vì đó là mối tình đầu và mối tình không có đoạn cuối.

- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Hồi Âm "GIÒNG ĐỜI..."
Nga Sàigòn.

Anh Duy thân mến,

Em ngồi viết lá thư này cho anh khi cơn mưa vừa mới tạnh. Cơn giông miền nhiệt đới ào ạt, kéo dài độ chừng hai tiếng đồng hồ, nhưng cũng đã làm cho cái nóng oi bức của Sàigòn dịu bớt. Mưa đã dứt, chỉ còn những giọt nước nhỏ thỉnh thoảng tí tách rơi trên miếng tôn mỏng hứng nước bên hiên nhà. Nghe tiếng giọt nước gõ đều đặn, rồi nghe tiếng nhịp tim mình đập, em bỗng thấy hình như mình mang một tâm trạng bồi hồi. Đặt bút viết là thư này cho anh, lòng em cũng cảm thấy bồi hồi như thủa ấy cầm tay anh lần đầu, mà không ngờ cũng là lần chào ly biệt... Không biết rồi lá thư này có thể đến tay anh? Nếu may mà thư đến, đọc xong anh sẽ nghĩ gì? Thôi em cũng liều... Cầm bằng như gió mang đi...

Tuần trước em đến thăm chị Hạnh, người bạn làm việc cùng cơ quan với em trước đây. Chị ấy xin phục viên sớm, vì đồng lương nhà nước trả không đủ sống. Chưa kể là đôi ba tháng nhà nước không có tiền phát cho nhân viên. Chị Hạnh bây giờ làm nghề buôn chui sách báo nước ngoài. Ở chỗ này thì em phải giải thích thì anh mới rõ tại sao ngày nay nước mình lại có cái nghề lạ như vậy. Từ ngày các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngưng viện trợ, nhà nước cần ngoại tệ nên họ đã mở cửa, khuyến khích người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương. Tuy có lệnh kiểm soát gắt gao ở các cửa khẩu hải quan những món hàng quốc cấm như sách báo tuyên truyền của phe tư bản, nhưng tệ nạn tham nhũng tràn lan không có cách gì ngăn cản nổi. Vì thế, du khách chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng hồ rẻ tiền..v.v... thì cái gì to như con voi qua cũng lọt. Người dân ở quê nhà bây giờ không ai thèm đọc báo nhà nước, ngày nào ngày ấy tin tức đều nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích. Người ta còn khôi hài nói rằng chỉ có tin tức khí tượng là không sặc mùi tuyên truyền, còn hầu hết đều... cuội! Vì thế dân chúng mới lén lút thuê hoặc mua lại báo chí bằng Việt ngữ hay bằng ngoại ngữ xuất bản tại nước ngoài.
Gặp em, chị ấy vội kéo vào buồng trong nói nhỏ:
- Này Nga, tôi có món quà này, chắc Nga sẽ thích vô cùng
Em chưa kịp hỏi chi ấy món quà gì, chị Hạnh đã dúi vào tay em một tờ báo. Chị nói:
- Dấu cho kỹ vào người đi! Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng rồi hãy đem ra đọc. Đọc để xúc động vì "người ta" còn nhớ tới mình!
Nhìn trang bìa tờ báo có hình một nửa chiếc máy bay phản lực đậu trên phi đạo và tên tờ báo là Ngàn Sao, lại nghe chị Hạnh nói bóng gió xa xôi, em linh cảm một điều gì đó rất mơ hồ. Nửa năm trước, chú Lâm từ bên Mỹ đi công tác cho hãng về Việt Nam đến thăm em. Chú ấy nhắc đến anh, đến tình cảm anh vẫn âm thầm dành cho em. Giác quan thứ sáu xui em liên tưởng đến một điều gí đó (mơ hồ thôi) rằng anh, chàng Phi công Cộng Hòa lãng mạn, có thể đem chuyện tình hai đứa dệt thành văn? Cầm tờ báo trên tay, em run còn hơn bị B-52 trải thảm hay như hồi sơ tán phòng không ở Việt Bắc. Chị Hạnh trấn an:
- Làm gì mà run dữ vậy? Bề nào Nga cũng là cựu sĩ quan quân đội nhân dân, công an nào dám đụng đến?
Em run không phải là sợ công an khám xét thấy mình mang món hàng quốc cấm. Em run vì không hiểu điều dự đoán của mình có phải là sự thực. Em run vì liên tưởng đến người bạn năm xưa vẫn còn nhớ đến mình. Anh đừng cười em già rồi mà còn vớ vẩn.
Chị Hạnh là người bạn sát cánh với em vào thời kỳ chiến đấu dọc Trường Sơn. Chị ấy cũng là con nhà tiểu tư sản như mình, nên em thường nhỏ to tâm sự trong những lúc dừng quân. Em có kể cho chị ấy nghe về anh, người bạn học cùng trường thủa thiếu thời.

Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng, mọi người đều đã say giấc nồng, em len lén đem tờ báo ra chong đèn lên đọc. Em đọc từng trang, rồi em dừng lại ở bài viết mang tên tác giả Duy Lạc, "Chắc chắn là anh đây rồi?!" Em tự nhủ: Quả nhiên đúng như điều em dự đoán.


Thời gian trôi nhanh quá anh nhỉ? Thấm thoát đã bốn mươi năm rồi còn gì? Bao nhiêu tấn tuồng dâu bể diễn ra! Bao nhiêu nước chảy dưới cầu! Hai mái tóc xanh của đôi trẻ ngày nay đã bắt đầu điểm trắng.
Chiến tranh bùng nổ, anh từ Sàigòn về lánh nạn ở quê nhà. May mắn thay giặc chưa thể tràn về vùng đất của mình, nên chúng ta có một thời kỳ bình yên. Khí thế bừng bừng của phong trào giành độc lập xứ sở bốc cao khiến tất cả thanh niên hăm hở lên đường làm anh vệ quốc quân. Tuy bọn mình còn nhỏ mà trong trí óc non nớt cũng đã thấy lòng rộn ràng vui thích như đi trẩy hội ngày Xuân. Em còn nhớ đêm liên hoan, anh hát bài "Nhớ Chiến Khu". Lúc bấy giờ nghe giọng anh run run, em cứ tưởng anh vì cảm thương nỗi nhớ nhà của anh vệ quốc quân trong núi rừng thâm u; nào dè anh run ...vì ánh mắt ngưỡng mộ va say mê theo dõi của em. Thì ra nhãn lực của em cũng khá đấy anh Duy nhỉ?
Dạo ấy lần đầu tiên nghe anh trả bài thầy giáo, em mới để ý thấy cách phát âm của anh khác với những học trò con trai trong huyện. Chẳng hạn, "mờ mịt" thì anh phát âm thành "mờ mịch" hay "vui quá" thành "vui góa". Và còn nhiều chữ độc đáo nữa...
Mới đầu bọn học trò trong lớp, rồi về sau bọn học trò của cả trường thường nhại cách phát âm ấy để trêu ghẹo anh. Thoạt tiên em cũng cười hùa theo bọn chúng, nhưng thấy anh chẳng phản ứng gì, mà chỉ nhún vai cười khỉnh rất là... Sàigòn, tự nhiên em đâm ra thích cái giọng ấy mới kỳ chứ! Mỗi lần đến giờ học, em đều cầu mong thầy giáo gọi anh lên trả bài để em được nghe cái giọng ngồ ngộ ấy.
Anh còn nhớ lần đi cắm trại đầu tiên do nhà trường tổ chức trước vụ Hè 51 không? Lớp mình chia làm bốn toán mà anh thì ở toán A, còn em ở toán B. Khi đến nơi, ai nấy đều lo căng lều dựng trại của toán mình, trong lúc đó anh lại chạy sang loay hoay giúp em làm chuyện này chuyện kia. Cử chỉ lăng xăng của anh có vẻ vụng về, khiến cho em vừa buồn cười vừa cảm động. Vì thế, buổi tối họp lửa trại, em mới lén dúi vào tay anh củ khoai em vùi trong bếp lúc nấu cơm chiều. Em còn trêu:
- Trại sinh bên toán B ăn hết "thịch" (thịt) cá rồi, em chỉ còn củ khoai nóng này tặng anh dùng đỡ cho "dzui"!
Chẳng những anh không giận vì bị em nhái giọng, anh chìa tay ra cầm củ khoai một cách hồn nhiên, mà miệng còn ấp úng nói gì nghe không rõ, em bỗng cảm thấy thương anh chi lạ!
Dân trong làng kế cận khu cắm trại, tối đến xong việc đồng áng cũng ra tham dự trò chơi lửa trại của đám học sinh. Ánh lửa hồng chờn vờn nhảy múa ngọn thấp ngọn cao, nhịp nhàng lung linh với tiếng đàn guitar bập bùng của anh tạo nên cảnh tượng kỳ ảo rất liêu trai. Con Thủy, con gái ông Xã Tài; con Nhạn, con gái ông Lý Trân, ngồi bên em cứ huých cùi chỏ vào hông em từng chập, mỗi lần chúng nó trông thấy anh gật gà gật gù theo điệu nhạc trầm bổng. Dường như lúc bấy giờ anh say sưa với âm thanh của từng nốt nhạc, không thèm biết gì đang xảy ra chung quanh. Khách quan nhận xét, cả huyện mình đâu có cậu học trò nào chơi đàn ngọt như anh? Chúng nó cũng khoái và để ý "người Sàigòn" có mái tóc chải bảy ba tango lắm đấy! Anh có biết rằng anh đã lọt vào mắt xanh của bọn học trò con gái tinh quái ấy không?
Em còn nhớ tính anh ít nói. Trong lúc mọi người ngồi huyên thuyên, thình thoảng anh chêm một câu pha trò hóm hỉnh mà nhiều khi người nghe không tinh ý, phải mất ba, bốn ngày sau mới hiểu. Cái tính "nghịch" ấy ngày nay anh vẫn không bỏ. Trong bài "Giòng Đời", em vẫn đọc thấy thấp thoáng cái văn phong đó. Anh cao lớn, nhưng không gầy như cây sậy và anh đâu có đen đúa xấu trai như anh tự chế diễu mình trong bài văn? Lại còn bày đặt tự chê mình học dốt!
Xong màn văn nghệ và đọc tin thời sự về những chiến thắng công đồn đả viện của bộ đội cụ Hồ cho dân chúng nghe, bọn học trò chạy xuống bờ biển nô đùa với sóng nước. Em nhớ đêm đó trăng lên muộn và trời trong xanh không một vẩn mây. Hình như đốm lửa trại cuối cùng tàn lụi rồi trăng mới lên. Khác với những học trò khác cùng lớp, anh không xuống bờ cát giỡn nước, giỡn trăng. Em thấy anh ngồi tựa lưng vào một cây dừa lả ngọn và đôi mắt đăm chiêu nhìn ra trùng khơi. Anh ngồi yên một cách thư thái, tự tại, đẹp như một pho tượng! Em biết rồi, người đó đang mơ mộng vì người đó đang yêu?! Lúc bấy giờ những cơn sóng bạc đầu phản chiếu ánh trăng nhấp nhô vờn nhau xô vào bờ, có làm cho tim anh xao xuyến, hởi người nghệ sĩ với cây đàn?
Em là con gái, trời ban cho em cảm nhận bén nhạy hơn con trai. Kinh nghiệm đời trải qua, chắc bây giờ anh đã hiểu rõ điều đó. Hồi ấy, mới thoáng thấy cử chỉ ân cần và ánh mắt trìu mến của anh nhìn em trong lớp học, ngoài sân trường, em đã đọc được ý nghĩ thầm kín của anh. Nhưng em là con gái, đặt biệt vào thời buổi ấy, luân lý và bản tính rụt rè của phụ nữ đâu cho phép em có một cử chỉ gì gọi là biểu đồng tình, dù trong thâm tâm em cũng rất cảm mến anh. Cũng có những đêm nằm một mình vẩn vơ bên cửa sổ ngắm trăng, bỗng nhiên ngửi thấy mùi hoa cau bưởi từ đâu đưa lại, em chợt thèm có anh bên cạnh để... ngắm anh (!) Hoặc để luồn những ngón tay thon nhỏ của mình vào tóc người yêu. Đó là cái rạo rực rất tự nhiên của người con gái ở tuổi dậy thì khi biết mình đang có một anh chàng đang ngấm nghé.
Em đã đọc đi đọc lại nhiều lần lá thư anh trao. Vì sự bất cẩn của em, con nhỏ Thủy - con gái ông Xã Tài - đọc trộm lá thư em dấu trong sách cho mượn, thế là nó đem đi mách lẻo với mọi người, gây ra sự hiểu lầm đáng tiếc khiến anh sinh lòng oán hận em. Nếu lá thư ấy bị một người bạn gái nào khác đọc thì chẳng đến nỗi nào. Đằng này con nhỏ Thủy vốn thầm yêu trộm nhớ anh, nên khi nó vớ được lá thư là nó kháo ầm lên để anh phải thẹn thùng với đám bạn gái của em và hai bà chị họ. Nghĩ lại, em chẳng phiền trách gì nó. Âu cũng là tại sợi chỉ hồng không se duyên cuộc tình chúng mình!
Ngày anh cầm tay em lần đầu (và cũng là lần cuối), em đã khóc, đã hết lòng gạn hỏi tại sao anh bỏ học và cố tình lẩn tránh em. Anh cứ lầm lì im lặng. Không ngờ bữa đó anh đã quyết định xuống tàu trở lại chốn phồn hoa. Tuổi trẻ thường hay đặt tự ái quá cao! Anh đi biền biệt để lại cho em nỗi nhớ đoạn trường. Em thẩn thờ biến nhác việc học hành và công việc trong nhà. Ba mẹ không hiểu chuyện cứ rầy la. Bỗng nhiên em cung sinh lòng trách cứ anh. Anh đã từ phương xa lại, mình gặp gỡ nhau, anh gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt. Bạn bè em một đôi đứa đem lòng thương hại, vài đứa trêu ghẹo em mang mối sầu tương tư. Em lại càng giận anh hơn.
Năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ chia đôi đất nước. Một số người trong làng xã tập kết ra Bắc. Gia đình em vẫn ở lại vì thuộc thành phần địa chủ. Tổng Thống Diệm về nước, đẩy mạnh chiến dịch Tố Cộng. Gia đình em không bị ảnh hưởng gì, vì người ta biết thời ấy ai cũng chống Tây. Nhưng chỉ có một số cán bộ Tố Cộng của ông Diệm lợi dụng quyền thế, thấy em có nhan sắc nên họ gây nhiều khó dễ để cưỡng bách em trao thân gởi phận. Nếu em liều mình nhắm mắt đưa chân, chắc chắn em sẽ cũng được yên thân. Nhưng tính em ương ngạnh, không chấp nhận sự hà hiếp, em bèn tìm đường lên núi để rồi ngả về phía bên kia. Thân gái dậm trường, liều mình bỏ gia đình ra đi đến phương trời vô định, em nào muốn làm một cuộc phiêu lưu? Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê hương!

Anh Duy yêu dấu,

Nhiều đêm em đã khóc, vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ đến anh thật nhiều. Nhớ đến kỹ niệm của những đêm trăng ở làng quê mình, của những buổi chiều hai đứa rong chơi lang thang trên bờ ruộng lúa vừa mới gặt, của mùi hương ngai ngái từ gốc rạ thoảng đưa trong gió. Và em còn nhớ đến cái giọng Sàigòn ngồ ngộ của anh nữa!
Sự đãi ngộ ở miền Bắc không tốt đẹp như những gì mà "người ta" đã ngọt ngào dụ dỗ em. Cũng như những bộ mặt đàn ông nham nhở (xin lỗi anh) tìm đủ mọi cách chiếm đoạt em. Ở vào bước đường cùng, lần này em đành nhắm mắt đưa chân. Em kết hôn với một ông sĩ quan già hơn em mười lăm tuổi. Trong bài "Giòng Đời" anh kể rằng em làm lẽ một viên tướng già là không đúng sự thực. Nhưng mà thôi, không sao! Làm vợ chính thức hay làm lẽ, số phận em vẫn hẩm hiu "bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!"
Chiến tranh ngày càng lan rộng và khốc liệt. Phi cơ oanh tạc hầu như mỗi ngày. Đa số nhân dân miền Bắc đều mong mỏi được quân đội miền Nam giải phóng, vì họ hết chịu đựng nổi đói khổ và cuộc sống hắc ám, rình rập. Em là người miền Nam tập kết muộn. Tập kết vì tưởng mình sẽ đến một nơi như thiên đàng, chứ không phải vì lý tưởng hay bị huyễn hoặc bởi cái chủ nghĩa hứa hẹn không còn cảnh người bóc lột người! Em chỉ tha thiết một điều: Chiến tranh sớm chấm dứt, hòa bình mau trở lại để em được quay về xóm làng xưa. Em tình nguyện xung phong đi chiến trường B (tức là xuôi Nam ) với hy vọng nhìn lại Bố Mẹ già và đàn em dại. Em lên đường như một người tìm về nơi chôn nhau cắt rốn, chứ không phải là kẻ lên đường "làm nghĩa vụ quốc tế" như người ta cổ võ đề cao. Trở về đó, em lại nghe tin đồn phong phanh rằng anh đã trở thành người phi công khu trục của chính quyền Sàigòn. Chao ôi! có lần nào anh say sưa oanh kích mà dưới ấy là chỗ đóng quân của em? Nếu chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em là người băng bó cho anh, thì không hiểu bọn mình phải xử trí ra sao trong tình huống ấy? May mà điều ấy không bao giờ xảy ra để chúng ta khỏi bị ngỡ ngàng.
Có lần em nhặt được tờ truyền đơn kêu gọi chiêu hồi từ trên phi cơ thả xuống. Em vội dấu kỹ tờ truyền đơn vào lần túi áo trong để chờ dịp thuận tiện là trốn thoát, nhưng cơ hội không bao giờ đến với em cả!

Khi miền Nam được "giải phóng", em nghĩ rằng đây là cơ hội em có thể tìm gặp người bạn tình năm xưa. Em biết rằng gặp nhau thì đôi ta mỗi đứa ván đã đóng thuyền, không còn hy vọng gì chấp nối, nhưng ít nhất mình cũng còn được thấy nhau sau mấy mùa chinh chiến. Niềm hy vọng ấy vội tan biến khi em biết rằng anh đã ra đi nước ngoài. Tâm tình em xen lẫn hai nỗi buồn, vui: Buồn vì không gặp được anh và vui vì anh không phải rước cảnh tù đày. Anh còn nhớ Loan, em gái của em. Nó kết hôn với Cảnh, một người Thiếu tá trong quân đội Cộng Hòa. Chồng nó bị đưa đi "học tập cải tạo", rồi chết vì lao lực trong rừng thiêng nước độc và vì thiếu dinh dưỡng. Loan nhờ chồng em can thiệp cho Cảnh. Như anh biết đấy. Tuy chồng em là tướng Việt cộng mà cũng đành bó tay bất lực. Từ đó Loan không bao giờ nhìn mặt em nữa. Chị em cật ruột bỗng hóa thành kẻ thù. Nỗi khổ tâm ấy do ai gây ra, mà một mình em phải hứng chịu sự khinh khi của gia đình? Tại sao em phải chịu nhiều điều oan nghiệt thế hở anh Duy?
Năm kia, chú Lâm về Sàigòn, chú ấy kể rất nhiều chuyện về anh. Em vô cùng xúc động vì anh vẫn giữ được trong ký ức hình ảnh và tình cảm trân trọng đối với người bạn gái đầu đời. Vận nước điêu linh, thế hệ chúng mình chẳng may phải hứng chịu nhiều thua thiệt. Thật là vô lý khi hai kẻ yêu nhau trở nên vô tình quay mũi súng bắn vào nhau. Ước mong sao những lớp người thuộc thế hệ mình nhìn rõ chân lý để cùng nhau xây dựng lại xứ sở hoang tàn bởi một thứ chủ nghĩa ngoại lai phi nhân. Mình phải có bổn phận nói rõ cho con cháu nên lấy thương yêu, chứ không phải hận thù, bù đắp những lỗi lầm của người đi trước. Có như thế thì mới hàn gắn được những đổ vỡ lớn lao trong quá khứ.
Đúng bốn mươi năm trước, dưới rặng dừa ở làng quê, anh e ấp trao em lá thư tỏ tình. Anh nao nức chờ đợi hồi âm. Em chưa kịp hồi âm thì không may xảy ra chuyện hiểu lầm. Bốn mươi năm sau, (nhờ đọc được bài văn của anh trên báo), từ phương trời này, một người đàn bà góa bụa và mái tóc đã bắt đầu điểm sương lại ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa vòng trái đất để kể lể chuyện đời. Xin cám ơn anh đã cho em một chút nắng trong buổi chiều tàn, "Một Chút Mặt Trời Trong Ly Nước Lạnh!" Đời em truân chiên đã gặp nhiều bất hạnh, nhưng kể từ khi đọc những dòng tâm tư của anh trên trang báo, em cảm thấy được an ủi phần nào. Bây giờ thì em mới biết ở nơi cuối trời xa thẳm kia có một chàng trai Sàigòn thủa nào vẫn còn giữ trong tim hình ảnh và kỹ niệm đằm thắm của người yêu ban đầu.

Thư viết cho anh đã khá dài. Những giọt nước mưa trên mái nhà cũng đã thôi gõ đều đặn xuống tấm tôn. Đêm đã xuống từ lâu. Cảnh vật yên lặng như tờ, nhưng dường như trong tiềm thức em vẫn nghe tiếng sóng biển rì rào và âm thanh xào xạc của những ngọn lá dừa cọ xát vào nhau. Biết bao giờ hai chúng ta có thể lại cùng nhau dạo chơi hóng gió chiều và nghe sáo diều trên đường làng quê cũ anh nhỉ? Ấy chết! Em lại lẩn thẩn mất rồi! Đừng! Chúng mình không nên gặp lại nhau để anh còn giữ trong trí nhớ hình ảnh con bé Nga mười mấy tuổi, má lún đồng tiền và nụ cười răng khểnh.
Em xin dừng bút. Cầu chúc anh dồi dào sức khỏe và gia đình gặp nhiều sự may mắn, an khang, thịnh vượng. Và xin anh nhớ cho rằng ở nơi xứ sở nghèo khó này vẫn có một người luôn luôn thương nhớ anh.

Thân ái,

Em gái anh, Nga

Tái bút: Để tránh sự kiểm soát của nhà nước, em trao lá thư này cho một sĩ quan sắp sang Mỹ theo diện H.O. và nhờ ông ta gửi đến chú Lâm bằng đường bưu diện. Em hy vọng rằng chú Lâm vẫn còn ở tại địa chỉ mà chú cho em trước đây. Đọc thư em, ước mong anh sẽ hài lòng khi thấu rõ tâm tình của em.

Thursday, October 16, 2008

Thuở hẹn hò

Trở lại thời mới yêu nhau,
Kỷ niệm 50 năm ngày cưới,ông Triết bàn với bà Triết:" Chúng mình sẽ tìm về hương vị thuở ban đầu lúc hẹn hò mới yêu nhau em nhé ". Bà Triết đồng ý,
Chiều hôm đó,đang ngồi đọc sách trong phòng,đột nhiên có một cục giấy được bắn qua cửa sổ,bà Triết nhặt lên mở ra xem vô cùng xúc động:"7 giờ tối nay ,hẹn em ở Bến Bạch Đằng nhé."
6 giờ40 ,tay cầm bó hoa hồng,ông Triết vừa huýt sáo vừa chạy đến bến tàu
ngồi trên băng đá đợi chờ,
7giờ...7.giờ 45....chốc chốc.......lại nhìn đồng hồ 8giờ.....rồi 8giờ30.....,ngồi xuống.....,đứng lên.....mong ngóng ,đợi chờ đến 9giờ hơn..
Triết buồn thiu buồn thỉu ra về, đến nhà Triết hầm hầm mở cửa và quát:"Sao bà không đến??"
Bà Triết ngồi ủ rũ, khóc thút thít:" Má em không cho đi......."

Chuyện Vui...Vui...!! Thân tặng các bạn 63d ,để nhớ thời hoa mộng.
Nữ sỉ Hoàng Gia Triết Lồi,


Saturday, October 11, 2008

Nhật Ký Đời Tôi - Mạnh Quỳnh, Hạ Vy

Click Vào Đây - Nhạc phẩm Nhật Ký Đời Tôi/Ca sĩ Mạnh Quỳnh, Hạ Vy

Friday, October 10, 2008

Ai dám bảo tôi già.

Năm nay tôi tuổi sáu mươi lăm,
An sinh xã hội đơn làm hôm qua,
Sáu lăm bạn tưởng tôi già,
Coi chừng có kẽ cho là bạn sai,
Trước tiên phải kễ tóc tai,
Tôi nhuộm đen bóng giống hai mươi xuân thì
Hoạ hoằn đôi lúc quên đi,
Chân tóc ngã trắng nhuộm thì đen ngay,
Tôi nghe bằng máy đeo tai,
Máy nay nhỏ xíu ai nào thấy đâu,
Cườm khô mắt mổ đã lâu,
Tôi không phải hỏi kín đâu suốt ngày,
Mí mắt sụp xuống kéo lên,
Tattoo đậm nét chân mày cong veo,
Mi mắt gắn bộ lông nheo,
Mũi nâng đúng kiểu theo người Tây phương,
Da mặt căng tận mang tai,
Không còn xếp lớp phũ dài trán nhăn,
Đồi mồi nhiều vết lăn tăn,
Mỹ viện đốt sạch bào phăng đi rồi.
Hàm răng gãy rụng một thời,
Nay thay bộ giả mản đời êm xuôi,
Má hồng son đỏ viền môi,
Người quen khi gặp khen tôi trẻ hòai
Người lạ hỏi ??
Tôi không đáp lại chỉ cười làm duyên,
Cười lộ má lúm đồng tiền,
Hàm răng trắng mịn đảo điên lắm chàng,
Bạn nhớ kiểm chứng đang hoàng ,
Người tôi như vậy sao mang tiếng Già.....????

Nữ sỉ Hoàng Gia Triết Lồi, Chép lại của tác giả nào không nhớ,mời các bạn đọc để yêu đời thêm,
Kính tặng Senoir Huỳnh Thông Thái, Tha thiết yêu đời cũng như thiết tha yêu em...!! nhé Thái,

Chị Bảy viết: Cám ơn Nữ Sĩ có lời khuyên, trong thơ của Nữ Sĩ mới 65 mà đã mang máy nghe, mỗ mắt cườm....! Với tuổi thất thập, tôi hoàn hảo toàn vẹn, mắt có thể thưởng thức qua màn đêm, tennis chơi ba bốn lần một tuần, chưn diện để cải hoá như trai tơ, vậy mà mới đây tôi vào Whataburger, tôi mua một hamburger, trả tiền xong, cô cashier đưa tôi ly giấy để lấy soda, tôi nói tôi không có order soda, cô cho biết soda free cho Senior, tôi uống ly nước ngọt mà tôi cảm thấy nhạt nhẽo như nước ốc!











Tuesday, October 7, 2008

Lá Thư Của Trưởng Ban Tổ Chức Hội Ngộ 2009

Sau đây là lá thư của Nguyễn đức Hiền, Trưởng Ban Tổ Chức Hội Ngộ 2009, tôi xin post nguyên văn. Tôi đang coi lịch lựa ngày lành tháng tốt để khoá sổ vote Hội Ngộ 2009 và lập danh sách để Hoàng Tử và Công Chúa ghi tên, đóng tiền thẳng trong Blog nầy. Tôi phải lựa ngày lành tháng tốt, vì "tuổi chuối chín" mong manh như trứng mỏng, tôi phải làm sao Hoàng Gia D Hội Ngộ kỳ nầy không thiếu một ai, và còn mấy dịp nữa đâu anh em ơi, kỳ nầy tụi mình về hết gặp nhau xả láng cho đã, nhưng sau đó về nhà vẫn mạnh như voi, để không hổ danh "Hoàng Gia D".

Thư của Nguyễn đức Hiền:

Than gui tat ca cac ban 63D than men
Nguyen duc Hien (dien) dang lien lac voi anh em 63D Southern Cali de ban ve ngay hoi ngo SVSQ KQ/63D du tru se to chuc vao ngay nhap ngu July 1st, 2009. Toi da lien lac duoc ban Dinh Sinh Long va Vu Viet Quy, Luong Ngoc Anh tat ca cac ban nay deu tich cuc va hua hen se giup toi mot tay..khi can den. Tuy nhien toi van con phai lien lac voi Hong Khac San, Ly Truc Ninh, Duong Kim Son, Nguyen Thanh Tung, Vo Tong Loc, Vo Hoang Thanh, Ho Vinh Thuy, Pham Quang Minh, Nguyen Van Thach, Tran Ngoc Thanh, Khuu Thai Binh, Mai van Cho de xin cac ban nay giup do va dut ket chuong trinh..

Vay thi xin cac ban chuan bi cho ngay hoi ngo 63D chac chan ngay July 1st, 2009. Hoi ngo SVSQ KQ/63D se duoc to chuc tai Orange County (Little Saigon) California.
Chi tiet (dia diem, nha hang, hotel, thuc don, du lich etc..) se duc thong bao tiep theo sau khi chung toi (63D / S. Cali) hoi y trong nhung nay sap den. (11/2008)

Xin ban Vu Ngo Dzung cho biet y kien xem co the giup cho cuon tap san 63D hoi ngo 2009? va DVD cua lan truoc hoi ngo + hinh anh sinh hoat cua anh em 63D trong hai nam vua qua?

Neu co the, moi anh chi Dzung lam mot chuyen ve Little Saigon choi voi gia dinh chung toi de minh hoi y them ve viec to chuc trong ky nay...

Vo chong toi vi phai ban ron tham chau ngoai tan Denver/Colorado vao khoang thoi gian Mid Oct to mid Nov 2008

Khi nao chung toi ve lai Cali, se suc tien moi viec va se cap nhat hoa dien tien den tat ca cac ban.

Ban Huynh Thong Thai: Xin nho ban create database de anh em ghi danh ngay tu bay gio. Rat mong cac ban huong ung va thong bao cho Nguyen Phung Xuan, Do Cuong, Bui Dat Vinh, Le Truong Lac, Tran Quang De, Duong Van Ngo, Pham Dang Luan..

Than chao cac ban.

Nguyen Duc Hien (63D)

Saturday, October 4, 2008

Thăm viếng Thầy D Houston sau trận bảo Ike







Click Vào Hình Để Xem Hình Lớn.

Hình 1: Ngồi - Thành, Chị Thành, Chị Hải, Chị Triết
Đứng - Đức, Thái, Hải, Diêu, Triết, Châu
Hình 2: Ở nhà quàng, Thuyên, Châu, Triết, Diêu, Hải, Thái
Hình 3 và 4: Sau đám ma Thầy D và Công Chúa đi ăn trưa Canh Khoai Mở, cá Bóng Kèo kho tộ ngon thấu Trời!

Được tin mẹ vợ của KQ63A Trần văn Nghiêm vừa mất tại Houston, chiều Thứ Năm Oct 2,2008 tôi xuống Houston ở nhà Thầy D Triết để sáng Thứ Sáu Oct 3, 2208 dự lễ hoả táng mẹ vợ của Nghiêm.

Biết tôi xuống Houston, Triết thông báo các Thầy D Houston, các Thầy D Houston đải tôi bửa cơm tối Thứ Năm thật thịnh soạn và nhiệt tình. Trong bửa cơm gồm có Thầy D và Công Chúa Triết, Thầy D và Công Chúa Lê Hải, Thầy D và Công Chúa Giang văn Thành, Thầy D Thiều quang Diêu, Thầy D Trịnh thành Châu, Thầy D Lê quốc Đức.

Thầy D Tony Cổn vì “già yếu” đi đứng rất khó khăn nên không đến được, rất mong Tony về Hội Ngộ 2009 với anh em.

Thầy D Trần tấn Định không đến được, vì kẹt cọi debate VP Palin, Định bận lo việc nước, anh em thông cảm!

Thầy D Định Tuấn bị cây ngã đè bị thương chân trong trận bảo vừa rồi, nên không đi đứng được, tội nghiệp! Cầu mong Đinh Tén Làm Chuẩn sớm lành bệnh.

Hẹn gặp nhau ở nhà hàng lúc 7:00 giờ tối, anh em có mặt đúng giờ, chỉ có Anh Chị Thành vì ở xa và bị kẹt xe nên đến trể. Rồi Anh Chị Thành đến, anh em mừng quá ra dấu cho cô chạy bàn và nói “sẵng sàng”. Cô chạy bàn phang cho một câu nhiều nghĩa “thì cho ra”! Anh em cười vì câu nói nhiều nghĩa đó, riêng Thầy D Diêu thì vui quá, xí xô xí xào với Á Múi liên tu, bị Á Múi mắng yêu mấy lần “nhiều chuyện quá”, anh em cười đã luôn!

Gặp lại các Thầy D Houston, thật là một niềm vui lớn cho tôi, vì tất cả Thầy D và gia đình an toàn trong trận bảo Ike vừa rồi, duy chỉ có Đinh Tuấn bị thương chân nhẹ. Cám ơn các Thầy D và Công Chúa Houston cho tôi một bửa cơm tràn đầy “Tình Bạn Thầy D”.

Thursday, October 2, 2008

Phiến Đá Sầu - Quang Dũng

Click Vào Đây - Nhạc phẩm Phiến Đá Sầu/Ca sĩ Quang Dũng

Saturday, September 27, 2008

Ánh Tuyết - Đêm Tàn Bến Ngự

Bản nhạc nầy tôi post September, 2007 nhưng hôm nay tôi post lại vì tôi vừa nhận email của Ông Hoàng Shihanook kèm theo mấy bản nhạc, trong đó có tiếng hát của Ánh Tuyết mà tôi rất có cảm tình, làm tôi nhớ lại bản nhạc nầy. Chuyến về VN cuối Năm 2007 vừa rồi, tôi và bà xả bệnh tả tơi, nằm trong hotel ở đường Bùi thị Xuân, hai đứa cố ráng kêu taxi lên phòng trà Ánh Tuyết cạnh hotel Omni gần Tân Sơn Nhất để nghe, nhưng đến nơi mới biết phòng trà bắt đầu 9:30 tối, hai đứa đang bệnh, sợ thức khuya không nỗi, nên trở về lại hotel, tốn 100,000.00 tiền taxi vô lý! tth

Click Vào Đây để xem Ánh Tuyết với nhạc phẩm Đêm Tàn Bến Ngự. Tháng 8, 2007 vừa qua tôi đi coi
Đại Nhạc Hội Paris By Night tại Dallas, ca sĩ Ánh Tuyết ca một nhạc phẩm không có nhạc đệm làm rung động cả Hội Trường mấy ngàn người, đó là lần đầu tiên tôi nghe Ánh Tuyết ca và tôi rất có cảm tình. Nếu Anh Chị muốn nghe thêm Ánh Tuyết ca thì đánh Ánh Tuyết vào Search Video bên trái rồi Click Search sau đó chọn bản nhạc để nghe.

Tin Ái Hửu: Có một số Anh Chị hối tiếc vì không viết bài cho Kỹ Yếu. Anh Chị nào muốn viết xin cứ tiếp tục viết, xin dùng font VPS rồi gởi bài cho tôi, tôi sẽ convert sang PDF để ai cũng có thể đọc chử VN có dấu, sau đó tôi sẽ đăng bài vào Blog. Xin Anh Chị vào chổ "Truyện Ngắn Hoàng Gia D" trong Blog mà xem truyện. tth

Friday, September 26, 2008

Tuesday, September 23, 2008

Giông tố đã qua, Triết o.k. rồi,

Cám ơn các bạn 63d xa gần đã quan tâm đến Triết trong cơn bão vừa qua.Sau 1 tuần sống âm thầm trong bóng tối mông mênh ,nay đã hưởng được ánh vinh quang!! Hú hồn,sau những ngày tá túc về lại nhà thấy không hư hại nhiều quá mừng rỡ,lúc đói khỗ mới biết Mì Gói là quí!! Thuở xưa với tui: Vợ là Mì Gói của ta,là hang Đặc Sản của thằng cha láng giềng.Giờ nầy tui biết ....gõ gàng gồi!!
Thời tiết Houston cũng như các sinh hoạt đã trỡ lại bình thường.Hy vọng các bạn 63d Houston và vùng phụ cận sẽ họp mặt ngày gần đây.Chắc phải phone cho Tuấn(Rụt) Thái (Senoir) sớm để còn đủ thời gian đường xa ơứt mưa!!
Mr.Thái (zúi) đã quá chín mùi rồi mà còn than thở Senoir gì nữa!!Tận hưởng với hiện tại đi Thái ơi!!
Dù mưa gío phũ phàng đến đâu chúng ta phải cố gắng tìm về với nhau tháng 7/2009 Orange County các bạn ơi.
Nhìn Ng.V. Tùng hôm anh ấy đến Houston tránh bão Gustav thật xót xa!! Tùng đến nhà Triết cùng một người Mễ
theo giúp Tùng từ ăn uống,vệ sinh .Tùng nghe và hiểu tốt,nhưng nói ,trả lời chúng ta khó hiểu Tùng.Mặc dù có xe
lăng nhưng phải nhờ người bạn Mễ.Trông Tùng tỏ ra yêu đời lắm,lúc đó có mặtcác bạn: T.t.Định,G.V.Thành,L.Q.Đức
tiếp chuyện với Tùng,và Tùng có nói phone với chị Đoàn Toại từ Cali .Tui không biết chị Toại có hiểu Tùng không ?Thấy Tùng hiện rõ nét hân hoan khi gặp lại bạn bè,và Tùng còn hứa sẽ dự ngày họp mặt 2009 nữa.
Hy vọng thật nhiều!! Và cầu nguyện luôn cho tất cả bạn bè đầy đủ sức khõe .
Nử sỉ Hoàng Gia Triết,

Sunday, September 21, 2008

Nỗi Niềm Của Thầy D Tuổi Chuối Chín

Nỗi Niềm Của Thầy D Tuổi Chuối Chín

Mua crème thoa mặt để chống da nhăn, thoa tay để tiêu diệt những aging spots, tóc nhuộm nâu đen, nói chung là tôi cải lảo hoàn đồng. Soi gương mỗi ngày, có lẽ vì quen mắt nên tôi rất thoả mãn với dung nhan hiện tại của tôi, rồi chiều hôm nay một sự thực xảy ra làm tôi thức tỉnh, vỡ mộng!

Mấy tuần nay bà xả đi nuôi cháu ngoại ở Cali, ở nhà một mình, chiều hôm nay trước khi ra tiệm ăn cơm tối, tôi soi gương chải tóc, cười duyên, nhún nhảy ra xe như trai tơ. Ghé đỗ xăng, cô cashier Mỹ trắng nhìn tôi cười duyên, mặt mày hớn hở tưởng bở là mình bảnh trai. Vào nhà hàng Mỹ tôi order thức ăn với bà Manager già và trả tiền xong, vào bàn ngồi. Bồi bàn bưng thức ăn ra, rảnh rỗi chưa muốn ăn vội, tôi cầm receipt đọc chơi, tình cờ tôi đọc hàng chữ “10% discount for senior”. Trời, tôi đâu có khai tôi senior, tóc tôi nâu đen, da mặt tôi thẳng băng, tay tôi không có một aging spot, tôi cải lảo hoàn đồng mà, tại sao bà Manager già biết tôi là senior! Tôi ngồi ủ rủ hết muốn ăn, “Tuổi Chuối Chín” không che đậy được các Thầy D ơi, thôi thì gặp nhau ngày Hội Ngộ 2009 xả láng cho hết luôn, “time is running out”, còn chờ gì nữa anh em ơi!
Chị Bảy
Chị Bảy Viết: Mấy ngày nay "cải lảo hoàn đồng" bị bà Manager già lật tẩy, ruột gan đang héo hon, hôm nay đọc comments của Cố Đạo ở phía dưới, Cố Đạo nỡ lòng chọc "cải đồng hoàn lảo". Chắc phen nầy phải xuống Houston nhờ Quân Sư Triết Lồi chỉ dẫn, mỗ mắt, bơm môi, chẻ cằm. Cái vụ nầy phải có Triết cố vấn mới được, vì Triết còn đang ăn khách lắm mà. Để cho chắc ăn, hôm nào tôi dụ Triết lên San Antonio, tôi đưa Triết đến gặp bà Manager già, để coi bà gọi Triết bằng gì, nếu bà gọi Triết "honey" thì Triết cũng chẳng hơn tôi vì bà đã trên 70. tth

Thursday, September 18, 2008

Tin Thêm Về Thầy D Houston

Cám ơn Cố Đạo và Chị Nhã Dung viết comments trong Blog, ở mục Tin Thầy D Houston ngày 9/13/08. Muốn xem comments thì click vào chữ comments.

Hôm qua tôi gọi cell phone Thầy D Triết không được vì đường dây chỉ dành cho emergency, gọi nhà thì nhà chưa có điện, gọi cell Công Chúa Triết thì được! Tôi thắc mắc, chắc là Triết dùng cell tán gẩu với đào nhiều quá nên bị hảng điện thoại đì!

Triết đang tá túc nhà cháu, nhà Triết không điện nhưng có nước, nhà cháu không nước nhưng có điện. Không có nước thì đi cầu, lấy nước đâu xả, khổ thiệt. Thỉnh thoảng Triết về nhà tắm.

Tôi gọi cell Tiên Sinh Diêu, nhà Tiên Sinh có điện nước đầy đủ, nhưng Tiên Sinh đang rầu vì gọi hảng bảo hiểm để claim nhà bị tróc nóc, dột nước, Tiên Sinh phải trả 2% deductible khoảng 4, 5 ngàn! Hy vọng Tổng Thống declares disaster, sẽ có fund của federal để cứu Tiên Sinh chăng?
Dù sao Tiên Sinh cũng cười nói vui vẽ, vì Tiên Sinh có điện, đêm khuya mỡ đèn sáng trưng thưởng thức, khỏi phải nheo mắt điều tiết thưởng thức trong màn đêm như Thầy D Triết.

Chúa Trịnh (Châu) chiều nay gọi tôi, Chúa Trịnh đã về nhà, nóc nhà bị bay mất mấy tấm singles, nhưng không dột nước, hàng rào bị ngã một phần, mái tôn lợp che chiếc tàu bị bay mất, xe cộ không hư hao. Máy lạnh bị hư nên đỗ thừa cho hurricane luôn, người có cốt tu mới hên như vậy. Nhà thì có điện nước đầy đủ, nhưng không có Công Chúa ở nhà thì cũng như không, không cơm nước, không tất cả!

Chợ búa Houston thì tiệm cho vô từng người, chắc không đủ nhân viên kiểm soát, nên chờ đã luôn.

Tin Lê Hải: Chiều nay Kiếm Sĩ Lê Hải gọi tôi, Kiếm Sĩ đi chơi mới về nhà!!!! Kiếm Sĩ lo đánh kiếm tặc tặc đây đó, anh em ở nhà lo cho Kiếm Sĩ thấu trời! Nhà cửa Kiếm Sĩ an toàn, chỉ bị gãy vài cây, mừng cho Kiếm Sĩ và Công Chúa nhà cửa an toàn, điện nuớc đầy đủ.

Chi Bảy

Wednesday, September 17, 2008

Yêu Một Mình - Y Phụng

Click Vào Đây - Nhạc phẩm Yêu Một Mình/Ca sĩ Y Phụng

Sunday, September 14, 2008

Tin Thầy D Houston trong trận Hurricane Ike

Click Vào Đây - Tìm hiểu nguyên nhân tạo ra hurricane, có ba điểm tôi muốn nhấn mạnh:
1. Nhiệt độ trên nước biển phải 80F hoặc cao hơn để tạo sự bốc hơi và gió cuộn
2. Hurricane cuộn ngược chiều kim đồng hồ nếu trên đường Xích Đạo, cùng chiều kim đồng hồ
nếu dưới đường Xích Đạo.
3. Nếu hurricane gặp đất liền hoặc nước biển 79F hoặc thấp hớn, hurricane sẽ yếu dần. Nếu nhiệt độ trên 80F, và càng nóng hurricane càng mạnh.


Đêm hôm qua Thứ Sáu 9/12/2008, tôi thức khuya và dậy sớm hai lần vào khoảng 2 giờ và
4:30 sáng để theo dõi tin tức Hurricane Ike vì lo sợ cho các Thầy D Houston.

Khoảng 7:30 sáng Thứ Bảy, tôi không dám gọi Thầy D Houston vì quá sớm, San Antonio lúc bây giờ không gió, không mưa, sáng sủa nhưng không nắng, lý tưởng cho Tennis, tôi xách vợt ra sân, không thấy người VN nào ngoài sân, chỉ có 3 người Mỹ, vừa đủ để chúng tôi đánh đôi. Đánh được ba sets, tôi về nhà khoảng 11:00 giờ, lúc bây giờ Houston đa số bị cúp điện nên điện thoại nhà không tôi xài được, tôi phải gọi cell phone và tôi liên lạc được vài Thầy D, sau đây là tin tức sơ khởi:

1. Thầy D Đinh Tén Làm Chuẩn: Tôi gọi ở tiệm, anh Mễ người làm, cho tôi biết gia đình Đinh
Tén ok và anh ta đưa tôi số điện thoại nhà, nhưng tôi gọi hoài không được, chắc bị cúp điện!
2. Thầy D Lê quốc Đức (Vua Lê), tôi gọi ờ nhà hoài không được, không có cell phone, chịu
thua!
3. Thầy D Trịnh thành Châu (Chúa Trịnh), tôi gọi cell phone, Chúa Trịnh rang rảng, vui vẻ trả
lời, không có vẽ gì lo sợ! Thì ra Chúa Trịnh đang phây phả hưởng thụ ở Kansas, anh em ở
nhà lo sợ mất ngũ, đúng là Chúa Trịnh có khác! Nhà Chúa Trịnh, có người cho biết ok.
4. Thầy D Nguyễn văn Triết (Chúa Nguyễn), đêm qua Chúa Nguyễn sợ quá, tá túc ở nhà người
cháu vì nhà nầy chắc chắn hơn. Sáng sớm Chúa Nguyễn chưa dám về thăm nhà, gọi người
hàng xóm thăm dò, nhà người nầy bị tróc nóc, ướt nhà, hàng rào ngã nghiêng. Chúa Nguyễn
lật đật bò về nhà tham quan, may quá nhà bình yên, hàng rào chỉ bị thủng lổ nhỏ. Chúa
Nguyễn mừng quá, nhưng vì lo sợ cả đêm qua nên hai "Ngọc Dương" chạy lên cổ họng, một
đã xuống lại bình thường, còn một bị kẹt lại, nên bây giờ đi nghiêng nghiêng. Riêng Công
Chúa Triết thì nói cười hả hê vì nhà cửa an toàn, còn cái "ý" có mất một thì chẳng sao, mất
cả hai thì càng tốt, vì bớt đi rong!
5. Thầy D Thiều quang Diêu (Thiều Tiên Sinh), tôi gọi cell phone, thường thì Tiên Sinh bao giờ
cũng trả lời điện thoại, nhưng lần nầy hơi lạ, Công Chúa trả lời, thì ra Tiên Sinh đang lao
nước trong nhà, vì nhà bị tróc nóc. Đêm qua Tiên Sinh và Công Chúa lên tá túc nhà con cho
ấm cúng, sáng về thì hởi ơi, nhưng vẫn vui vì toàn gia an toàn. Lo sợ và mệt quá, chắc lâu
lắm Tiên Sinh mới xuất thơ lại được, tiếc thay!
6. Thầy D Lê Hải, Giang văn Thành, Nguyễn văn Cổn, Trần tấn Định, tôi không liên lạc được, tôi đang
nhờ Thầy D và Công Chúa Triết liên lạc, có tin Công Chúa Triết sẽ post lên Blog sau. Cám ơn
Công Chúa Triết trước./.

Chị Bảy

Friday, September 12, 2008

Thursday, September 11, 2008

Tuesday, September 9, 2008

Thầy D trong Đại Hội 2 Quan Sát 2008

Tôi vừa nhận được email của Nguyễn đức Minh San Jose, sau đây là nguyên văn email:

Click vào đây - Để xem slide show (Thầy D Long lâu quá không gặp, trông còn sung sức lắm, nhạc rất hay, ngày Hội Ngộ KQ63D 2009 rất mong Long giúp Hiền Điên một tay. tth)

Thai than,

Labor day week-end vua qua vo chong toi va Do Ngoc An lai xe ve Nam CA tham-du Dai-hoi 2 Quan-sat.Cac Ban 63D Quan-sat va co goc gac quan-sat hau het deu co mat nhu Vo van Oanh,Nguyen tai Hiep,Phan tan Cong,Nguyen duc Hien,Ho vinh Thuy,Ly truc Ninh,Vo hoang Thanh,Hoang dinh Truc,Tuan Rut.Ngay thu hai truoc khi ve lai San Jose chung toi co ghe nha Dinh sinh Long va gap lai vai ban 63.Mot vai ban khong den vi phai tro ve som. Anh Chi Long rat hieu-khach da tiep cac ban 63 nong-hau va chan-tinh.Sau hon 30 nam gap lai ban cu moi nguoi deu rat vui mung.Anh Chi Long hat rat hay va dac biet Anh Long dem nhac that tuyet voi.Qua la tieng don khong sai.Chung toi da co nhung giay phut that kho quen.Sau do Anh Long da bo nhieu thi gio thuc-hien slideshow nay goi cho cac ban cung xem.Nho Thai dua len webside63D.Cam on nhieu.

Than.

Minh

Friday, September 5, 2008

Mưa Buồn & Tôi Đưa Em Sang Sông - Như Quỳnh

Click Vào Đây - Mưa Buồn và Tôi Dưa Em Sang Sông / Như Quỳnh và hai em Tường Nguyên, Tường Khuê

Thursday, September 4, 2008

Tin Thầy D Vương minh Dương và Nguyễn văn Tùng

Hurricane Gustav đến Louisiana ngày Thứ Hai Sept 1,2008, anh em lo sợ cho Thầy D ở Louisiana. Chủ Nhật Aug 31,2008, Thầy D Triết gọi bảo tôi về Houston vì có Thầy D Nguyễn văn Tùng đang tỵ nạn bảo ở Houston. Tôi đang đi đám cưới ở Dallas nên không về được. Triết có đón Thầy D Tùng về nhà chơi và có Thầy D Lê quốc Đức, Giang văn Thành đến thăm, sức khoẻ Tùng không thay đổi. Tôi gọi thăm Vương minh Dương thì được biết Dương đang ở Dallas, Dương lên Dallas thăm con trước, nên ở lại tỵ nạn bảo luôn, sức khỏe Dương rất tốt, "ngọc dương" còn hoạt động tuyệt vời. Mừng hai Thầy D Louisiana bình an trong trận bảo Gustav vừa qua.

Chị Bảy

Friday, August 29, 2008

Tình Bạn Thầy D















Hình 1&2: Hồ Superior và light house của hồ


Hình 3: Thác nước Two Harbors gần hồ Superior, thác nước nầy chảy nước rĩ rĩ như Quý Thầy D của tuổi chuối chín!


Hình 4: Chị Đức, Anh Bảy, Anh Chị Ánh trong áo tràng.

Hình 5: Thầy D Ánh đang đi chuông lễ Vu Lan 2008, tịnh tâm đoái công chuộc tội!

Click vào hình để xem hình lớn.

Tình bạn Thầy D,

Khoảng tháng 6, 2008 Thầy D Ánh mời vợ chồng tôi lên nhà ở Minnesota chơi, tôi hẹn lần vì bận đi Yellow Stone với các Thầy D khác, bị Thầy D Ánh và Công Chúa la quá Trời! Rồi ngày 20 tháng 8, 2008 vợ chồng tôi bay từ Texas, vợ chồng Đức Cào bay từ Georgia lên Minnesota ở nhà Ánh 7 ngày.

Ánh thuê xe van tám chổ, đưa ba cặp đi thăm thắng cảnh, lên Duluth viếng hồ Superior, một trong ngủ hồ lớn nhất thế giới. Hồ Superior rộng thênh thang như biển, chạy dọc bờ hồ lên tới Canada, một nữa hồ Superior nằm trên lảnh thổ Canada. Trời tháng Tám, chúng tôi phải choàng áo len, vì thỉnh thoảng gió từ Canada thổi xuống lạnh lạnh.

Ngày nhập ngũ KQ63D, tôi đưa Ánh, Nẫm Ngọng và một số Thầy D khác về nhà tôi ở Thủ Thừa Long An chơi một ngày, chúng tôi thân tình từ đó. Lúc bấy giờ Ánh là người duy nhất của khoá có vợ, nhưng chưa có con. Chị Ánh, một người vợ đảm đang, thuần thục, chỉ biết lo cho chồng con. Lúc bây giờ Chị Ánh là Cô Mụ ở Nha Trang, Chị làm ra tiền, nên khi KQ63D ra Nha Trang, cuối tuần vợ chồng Ánh là chủ nợ không lấy lời của vài Thầy D, trong đó có tôi. Mượn tiền Thầy D Ánh tiêu xài thoải mái, cho tới ngày mãn khoá bay Cessna, Má tôi ra dự lễ và trả nợ. Ơn đó tôi không bao giờ quên, nên mấy chục năm về trước, Ánh và Chị dẫn ba đứa con nhỏ về San Antonio thăm tôi. Gặp lại Ông Bà chủ nợ ngày xưa, tôi hết sức vui mừng, vợ chồng tôi nhường Master Bed Room cho khách. Vừa rồi, vợ chồng tôi lên, Anh Chị Ánh nhắc chuyện xưa, ép chúng tôi ngủ trong Master Bed Room của Anh Chị, vợ chồng tôi áy náy làm sao! Ánh và Chị lo cơm nước cho vợ chồng tôi và anh chị Đức hết sức chu đáo và nhiệt tình.

Ngày nhập ngủ, còn ở Huỳnh hửu Bạc, lúc bây giờ Vỏ huỳnh Ánh chỉ là một thư sinh Nha Trang có vợ, rất bở ngỡ trước xa hoa của Saigon. Ánh gặp Chị Bảy, thổ địa Saigon, từ đó không lâu Ánh theo kịp và không chừng qua mặt Chị Bảy.

Tháng 5, 1975 tôi gặp Ánh với thằng Minh em nó trong trại Camp Pendleton CA, hai đứa ở cùng lều với tôi. Ánh lạc vợ con, vợ con Ánh đi theo DAO nên ở trại tiểu bang khác. Một buổi sáng, tôi đi ăn về, chiếc áo bay tôi treo ở đầu giường bị biến mất. Chiếc áo bay là tài sản duy nhất của tôi đem từ VN sang Mỹ, sau 12 Năm bay bổng! Tôi hỏi Ánh, Ánh cho biết Ánh đã bán áo bay tôi cho lính gác lều Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ. Tôi kêu Trời, Ánh than: “Tao cần tiền hút thuốc, mầy treo áo bay làm gì?” Tôi thông cảm câu trả lời của Ánh, và vừa rồi tôi kể cho Chị Ánh nghe, Chị cười và cho tôi biết Ánh đâu có hút thuốc! Được dịp, tôi tố Ánh với Chị “Chắc nó bán áo bay tôi để dẫn đào đi ăn!” Ánh đứng kế bên Chị, cười hề hề và giải thích "thằng Minh em tao ghiền thuốc nặng lắm".

Từ ngày về VN tới nay gần một Năm, bà xả tôi còn ho và uống thuốc trụ sinh! Cám ơn Anh Chị Ánh, Anh Chị Đức, đã cho vợ chồng tôi mấy ngày vacation hết sức rất cần thiết cho bà xả tôi trong lúc nầy. Cám ơn tình bạn Thầy D.

Chị Bảy

Friday, August 22, 2008

Ba thaỳ DÊ

Ba thaỳ Dê naỳ đẹp trai quá xá, chắc tại tao mơí đôỉ caí monitor.Chúc các Thâỳ enjoy life, nhìn hình nhà của thaỳ D Ánh, tôi nhớ mươì năm về trước anh chị Ánh có rủ tôi đến cho bưả cơm chiều.
See you guy in July/09

Bach

Chị Bảy viết: Trời, lâu nay bặt tăm hơi, tôi tưởng Ông Hoàng trốn tôi, âm thầm hồi cung xứ Chùa Tháp, vì sợ tôi xin xỏ làm Quan Thái Giám! Ông Hoàng và Hoàng Hậu có khỏe không? Tụi tôi thăm Thầy D Ánh vui lắm, nhắc chuyện xưa, cười đã luôn. Tụi nầy có nhắc Ông Hoàng và Thứ Phi ở Nha Trang ngày xưa, Thầy D Ánh rành lắm! Ông Hoàng móc anh em tê tê quá, khen anh em đẹp trai là vì nhờ mới mua monitor!!! Tụi tôi biết thân phận tuổi chuối chín rồi mà! Ông Hoàng lo dợt tennis, tôi và Đức Cào tập dợt ráo riết, hai đứa mới hạ mấy thanh niên chổ Thầy D Ánh, không gỡ, Ông Hoàng liệu đấy nhé! tth

Thầy D Đức và Chị Bảy đang ở nhà Thầy D Vỏ huỳnh Ánh

























Ngày 20 tháng 8, 2008, Thầy D Đức Cào và Chị Bảy cùng Công Chúa bay lên Minnesota, thăm Thầy D Đại Đội Trưởng Vỏ huỳnh Ánh.
Hình 1: Cặp D Ánh, Đức
Hình 2: Cặp D Ánh, Thái
Hình 3: Ba Thầy D
Hình 4: Hồ Harriet
Hình 5: Capital
HÌnh 6: Nhà Ánh
Click vào hình để xem hình lớn.

Monday, August 18, 2008

Criss Angel nhà ảo thuật gia quái chiêu!

Click vào đây - Xem Criss Angel đi qua hồ Lake Mead!

Click vào đây - Tìm sự thật đi trên nước bị vạch trần, để ý camera Criss cầm trên tay, Camera nầy là loại đặc biệt giúp Criss nhìn thấy cột kiếng được chôn dưới nước để bước lên, mắt thường không nhìn thấy loại kiếng nầy.



Click vào đây - Xem Criss Angel để xe hủ lô cán qua người!

Click vào đây - Tìm sự thật xe hủ lô cán qua người! Sự thật Criss nằm trên tấm thảm, dưới tấm thảm là tấm foam, dưới tấm foam có lổ trống hình chữ nhật vừa khổ với thân mình Criss, xe hủ lô chỉ đè Criss và tấm foam xuống lổ trống!


Thầy D nào có thắc mắc về việc ảo thuật, email tên của ảo thuật gia và tên của việc làm đó cho Chị Bảy, Chị Bảy có thể tìm ra sự thật!

Tuesday, August 12, 2008

Hà Nội Ngày Trở Về - Quang Dũng

Click Vào Đây - Nhạc phẩm Hà Nội Ngày Trở Về/Ca sĩ Quang Dũng

Saturday, August 9, 2008

Hillary Clinton Farts!

Click Vào Đây - Nhìn kỹ gương mặt Hillary, trước khi "bom" nỗ bà có vẻ rặn để phóng "bom" , sau khi "bom" nỗ, mặt bà giật mình tẻn tò thấy rỏ vì bà không ngờ "bom" nỗ lớn quá, tôi không sao nín cười khi xem video nầy.

Friday, August 8, 2008

Chỉ Có Một Thời - Quang Dũng

Click Vào Đây - Nhạc phẩm Chỉ Có Một Thời/Ca sĩ Quang Dũng

Monday, August 4, 2008

Wednesday, July 30, 2008

Hướng về Hà Nội - Thu Phương

Click Vào Đây - Nhạc phẩm Hướng về Hà Nội/Ca sĩ Thu Phương

Tuesday, July 29, 2008

Sunday, July 27, 2008

Phiến Đá Sầu - Quang Dũng

Click Vào Đây - Nhạc phẩm Phiến Đá Sầu / Ca sĩ Quang Dũng

Saturday, July 26, 2008

"Thái Dương" NGUYỄN VĂN XANH - Đại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder


MD Nguyễn tam Thanh, một Thầy D có hạng, có lần vượt biên giới Mễ với tôi ở Texas, tụi tôi đi ăn dê nướng, anh đòi ăn Ngọc Dương, tôi nói goat balls thằng bồi Mễ không hiểu vì nó không biết tiếng Anh, anh Thanh vẽ vô giấy nó cũng không hiểu, tôi lôi nó vô restroom và chỉ của tôi, nó ôm bụng vừa cười vừa chạy đi tìm ông Manager, Manager ôm bụng cười và kêu lên "Amigo, baby goat no balls", hai bà xả của tụi tôi cũng cuời ra nước mắt. Câu chuyện vừa rồi làm các Thầy D và Công Chúa cười, hôm nay Thầy D có hạng Thanh gởi tôi một câu chuyện có liên quan đến một phi công VNCH, nước mắt tôi lưng tròng khi đọc câu chuyện nầy, nhưng tôi cảm thấy hảnh diện lây về việc làm của anh KQVNCH, cám ơn anh Thanh. Sau đây là câu chuyện:

"Thái Dương" NGUYỄN VĂN XANH Một người như mọi người! * William S. Reeder (Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa) 

Lời nói đầu: Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người "anh hùng" được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình. Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku). Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ , có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn g=E 1n trong phần tổn thất của quân bạn: "Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích". Chấm hết! Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ. NHT * * * Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nh ì của tôi khởi đầu vào ngày 7 tháng 12 năm 1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phải công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài. Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt t5n công mà người Mỹ quen gọi là "Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972" (1972 Easter Offensive). Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây. [1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụ ng "Mùa Hè Đỏ Lửa" thay cho "Easter Offensive"] Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây - giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui. Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại Căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở Căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ. Hôm đó là ngày=2 09 tháng 5, 1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, ở cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy, và luôn luôn để anh bay chung v ới tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ! Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phòng20thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ. Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã20vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình. Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày. Sau khi cất cánh khỏi phi trường Ko ntum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch. Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật20chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim - dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ. Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngC3y trước khi bị bắt. * * * Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền; và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá. Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai20cái hamburger còn sống. Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông - là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì c ng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắc ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái "cầu" này để vào trại. Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ - gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bB gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột! Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại. "Nhà vệ sinh" này thực ra chỉ là vài c i hố xí để bạn phóng uế xuống. "Vấn đề" là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có "nhu cầu", người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là "nhà vệ sinh" ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không c bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy. Theo ký ức của tôi thì nước uống không có "vấn đề". Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có "vấn đề". Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được "chiêu đãi" bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây "yucca" ở châu Mỹ La-tinh. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hB được cạo râu. Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi. Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại. * * * Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ! Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố g=E 1ng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi "phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi", tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó. Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang. Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái n gược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng. * * * Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực. Mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh. Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, lA 1i còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon lFm. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình càng ngày tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng. Kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh. Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho. Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại20ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời! Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậ y, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh. Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó. * * * Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bư ớc đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây "cầu" bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống vào kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng v0o người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa! Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penecillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm cB 4ng việc áp giải. Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới "khách sạn Hilton - Hà Nội" lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến. * * * Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng. Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh nhứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh. Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho "trang chủ" mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong m t ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết. Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, tr ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do. Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh - vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết; và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy.
 

Friday, July 25, 2008

Phi cơ mới?

Trong một ngày gần đây, chúng ta sẽ có dịp có một loại phi cơ mới như thế nầy chăng? Dùng một loại quạt như máy thổi (blower) kiểu như cũa máy điều hòa không khí (air conditioner) để tạo ra sức nâng(lift) cho phi cơ.

Click vào đây:


Chị Bảy viết: Hey Chúa Trịnh - smart man - good job Châu ơi! Tiếp tục post Chúa Trịnh ơi, hôm nào Hội Ngộ tao mời mầy đi uống cafe quậy với Dê Thờ.

Thursday, July 24, 2008

Gap mat Bach dien Son tai Florida





Chị Bảy viết: Good job Năm ơi, thấy Florida tao nhớ Eglin AFB nơi mà ngày xưa tụi tao học A1. Tao mới gọi thằng Bạch diện Sơn, hy vọng sau Hội Ngội Orange County 2009, thằng Sơn sẽ tiếp đón các Thầy D và Công Chúa ở Florida. Thằng con mầy giống bố như đúc. Mầy muốn bỏ dấu tiếng Việt thì điện thoại cho tao.

Hop mat phi doan 532 tai Niceville, FL (30/6/08)






Tuesday, July 22, 2008

Đón chào Ng.K.Năm,

Triet đây,xin chào đón một tay quần vợt 63d Năm Vồ. Hẹn gặp bạn lần hội ngộ 2009 ,chắc là chị Bảy sẽ đấu trận đầu tiên với Nam Vo,từ đây chị 7 phải tập chạy ngay hàng mới có cơ hội thắng anh 5 đấy nhé.
Rất vui mừng được thêm vài tay tennis trong 63d, chúng mình lập hội tennis 63d: Hiền điên,Đức cào,Anh lé,Thái Zôm,Triết lồi,Xương xì,Ẩn cậu 2,
Dương M.V.,v.v....
Bao nhiêu cũng đủ đánh nhau rồi!!
Chúc Năm nhiều sức khoẽ,thăng tiến,
Triết,

Nguyễn kim Năm ra mắt KQ63D Blog

Hello Chị Bảy, đây là Năm Vồ đang vô Blog của Chị Bảy lần đầu! Năm cũng xin ra mắt Hoàng Tử, Công Chúa D.

Chị Bảy viết: Hello Năm, hân hạnh chào đón bạn hiền D, bạn hiền qua sau, giờ nầy còn cày, đáng khâm phục lắm. Đang chờ gặp bạn hiền ngày Hội Ngộ KQ63D 2009 tại Orange County, sẽ có trận thư hùng tennis sôi nỗi!

Hoàng đình Trực: Thầy D Hoàng đình Trực nhờ Chị Bảy post giùm lời chào mừng trể Quận Công Phát Trĩ, và hận hạnh chào đón Thầy D Năm Vồ. Thầy D Trực nhắn nhũ Thầy D Năm rằng, có website "Phim adult Internet2" column bên trái của Blog, nó không giống mấy con "vẹm" trong tù đâu nhé, nó trề môi, le lưởi, dữ dằn lắm, vào đó cẩn thận!

Thursday, July 17, 2008

Loài chim không làm ổ, không nuôi con, nhưng đẻ đều đặn!

Click Vào Đây - Chim Cuckoo mẹ vào ổ của chim khác có sẵn 4 trứng, nó ăn hai trứng và chừa lại hai trứng, rồi đẻ một trứng của nó vào, bắt chim khác ấp và nuôi con cho nó. Trứng chim Cuckoo nỡ nhanh hơn, khi mới nỡ chim Cuckoo con chưa mọc lông , chưa mở mắt, thế mà nó đã gian ác như cha mẹ nó, nó ủi trứng của cha mẹ nuôi xuống đất để cho cha mẹ nuôi chăm sóc mình nó thôi! Đời sao mà có loài chim gian ác chưa từng thấy! Ở VN cũng có loài chim Tu Hú tương tự như vậy, không bao giờ làm ổ và nuôi con, nhưng đẻ đều đặn. Cũng trong video nầy Anh Chị sẽ thấy có loài vịt cũng gởi trứng cho chim ấp, nhưng vịt con nỡ ra tự kiếm ăn và không giết hại ai.

Click Vào Đây - Xem loài cá Crafty Catfish cũng gian ác như loài chim Cuckoo trên, Crafty Catfish mẹ ăn một số trứng của cá Cichlid rồi đẻ trứng nó vào thế, cá Cichlid mẹ ngậm trứng vào miệng để ấp và bảo vệ, Crafty Catfish con mới nỡ chút xíu, vậy mà nó ăn thịt cá Cichlid con trong miệng mẹ nuôi một cách đành đoạn!

Saturday, July 12, 2008

Tắm sông cẩn thận, coi chừng Candiru Fish Parasite

Click Vào Đây - Candiru fish đánh hơi chui vào mang những cá lớn để hút máu, sống cuộc đời ký sinh. Tắm sông không mặc under wear, và "pee" dưới nước rất nguy hiểm vì Candiru fish đánh hơi chui vào chổ kín cả nam lẫn nữ để hút máu, sống cuộc sống ký sinh!

Friday, July 11, 2008

Phóng Sự Nhật Bản

Click Vào Đây - Phóng sự hơi dài, nhưng tôi cảm thấy rất xứng đáng sau khi xem, tôi thích nhất cảnh Thầy Tu Phật Giáo ở Nhật được lấy vợ, ăn mặn, điều nầy đồng ý tưởng mà tôi có từ lâu. Có lần ở San Antonio, tôi họp Ban Quản Trị Chùa Bảo Quang, tôi đưa ra đề nghị cưới vợ cho Thầy Trù Trì Chùa Bảo Quang, tôi bị một số người cho tôi có tư tưởng kỳ lạ, trong số người chống đối có bà xả tôi, riêng tôi cho đó là thực tế, không Thần Thánh hoá để đi ngược lại thiên nhiên! Ngày xưa gia đình tôi lập ra Chùa Thiên Phước (tên của Ông Cố Nội tôi) cho cả làng, Ông Nội tôi cưới vợ cho Thầy Trù Trì, sau đó Thầy Trù Trì điều hành Chùa rất êm thắm, không hề có tai tiếng. Bị chống đối ý tưởng cưới vợ cho Thầy, tôi đưa thêm ý kiến "Hoạn" Ông Thầy để tránh cảnh tùm lum. Ông Thầy đồng ý, Bà Thủ Quỷ chở Ông Thầy đi hoạn, Bs Mỹ biết Ông Thầy còn trẻ và chưa có gia đình, Bs không chịu làm! Ông Thầy trẻ sau nầy cởi áo Thầy Tu ra đời vì không chịu nỗi!

Cảnh thứ hai làm tôi chú ý là cảnh Bom Nguyên Tử nổ 1945!

tth

Thursday, July 10, 2008

Giant Octopus Ăn Thịt Cá Mập To Lớn

Click Vào Đây - Lâu nay tôi tưởng Cá Mập to lớn không có đối thủ, tình cờ hôm nay tôi mới vở lẽ "vỏ quít dầy, móng tay nhọn". Lúc nhỏ tôi nghe Ma Da kéo người ăn thịt dưới sông, dưới biển, Giant Octopus chính là Ma Da mà người nhà quê thường nói, Cá Mập to lớn, mạnh cở nào, Octopus kéo ăn thịt coi như không, vậy thì con người đối với Octopus ăn thua gì!

Monday, July 7, 2008

Charles Parker và Chị Thanh Huệ có lời cảm tạ






Charles Parker và Chị Thanh Huệ có lời cảm tạ

Ngày Thứ Bảy July 5, 2008 Thầy D Xương Xì tổ chức một bửa cơm thân mật tại tư gia gồm có mấy Thầy D như Anh Chị Triết, Anh Chị Thái, Anh Chị Dũng Vũ Ngô, Anh Chị Dũng Phan, Anh Chị Bắc, Anh Chị Minh, Cậu Hai Ẫn (Mợ Hai Ẫn bận giữ cháu), Chị Thanh Huệ và Charles và một số thân hữu của Anh Chị Xương.

Sau bửa cơm thân mật và trước khi bắt đầu văn nghệ tại tư gia Xương Xì, Charles và Chị Thanh Huệ nhân cơ hội có một số Thầy D đại diện, Charles đã dùng microphone để đại diện tang gia Parker có lời cảm tạ cùng các Thầy D. Charles cho biết Ông rất cảm kích khi nhận rất nhiều cú điện thoại chia buồn của các Thầy D. Khi bay về đến nhà, gia đình quấn quít hỏi han Ông về South Vietnam Airforce Class 63D, Ông rất hảnh diện với gia đình vì vòng hoa phúng điếu của các Thầy D lớn và đẹp. Vòng hoa phúng điếu của các Thầy D sau cùng được đặt trên mộ Ba Má Charles, đó là một vinh hạnh lớn cho Charles đối với gia đình. Nghe lời cảm tạ chân tình và nhìn sự hảnh diện lộ trên mặt Charles, tôi tất vui mừng vì Hoàng Gia D đã làm một việc quan trọng để thắt chặt thêm tình ruột thịt. Cám ơn Xương Xì đã lấy tin tức kịp thời từ tang gia, cám ơn Cố Đạo đã bỏ thời giờ lo đặt vòng hoa phúng điếu giùm anh em!
******************************************************************** ********************************************************************
Trước bửa cơm thân mật, các bà có buổi họp Chợ Chòm Hỏm để xẻ mít cho tráng miệng. Chị Xương luộc một rổ hột mít, vì xăng mắc Chị Xương khuyến khích Anh Chị ăn hột mít cho có hơi để đẩy phụ xe cho đở tốn xăng! Từ trái sang phải: Chị Xương, Chị Thanh Huệ, Chị Mai, Chị Dũng Phan, Chị Minh, Chị Bắc, Chị Dũng Vũ và Chị Thái. (Click vào hình để xem hình lớn)

Saturday, July 5, 2008

Mấy Thầy D đi Yellow Stone




Phái đoàn D đi Yellow Stone. Hình ở nhà Anh Chị Phát ngày chót chụp với Anh Lé, Anh Danh và Nguyên. Hình cụng ly ở nhà Anh Chị Phát lúc Anh Lé chưa tới; Bryce Canyon; nhà hàng con Anh Thành chụp với Anh Chị Thành. Click vào hình để xem hình lớn.














Mấy Thầy D đi Yellow Stone Tour

Ngày 16 tháng 6, 2008 Thầy D Triết Lồi, Chị Bảy bay từ Texas lên Las Vegas ở nhà Phát Trĩ. Ngày 17 tháng 6, 2008 Thầy D Đức Cào bay từ Georgia lên Las Vegas ở Caesars Palace Casino.

Ngày 18 tháng 6, 2008, Thầy D tập họp ở parking Tropicana Casino để chờ xe bus của Yellow Stone tour lên từ Orange County. Phái đoàn D gồm có 9 người, Quận Công và Quận Chúa Phát Trĩ, Anh Chị Triết, Anh Chị Đức, Anh Chị Bảy và Chị Năm (chị Bà Triết).

Thầy D suýt bị tù oan: Khoảng 1:00 PM ngày 18 tháng 6, vì xe không đủ chổ cho 7 người, Phát Trĩ thả Triết và Chị Bảy xuống parking Tropicana Casino trước, rồi về nhà chở mấy bà đi ăn phở. Triết và tôi ngồi chờ xe Bus của tour, thấy Đức Cào tới, hai đứa ra phụ Đức kéo vali vô trong Casino cho mát. Vừa kéo vali vô phía trong Casino thì một bà Tàu chạy theo tôi và Triết la inh ỏi, thì ra hai đứa tôi kéo vali của bà Tàu mà chúng tôi tưởng của Đức! Gặp tôi, Đức hỏi vali tụi tôi đâu, tôi nói trên xe Phát Trĩ, vậy mà chúng tôi kéo vali không phải của Đức, Đức nhìn thấy không nói gì hết, khổ thiệt! Tôi vổ vai bà Tàu giải thích, bà thông cảm và làm quen mượn cell phone của tôi, tôi mừng húm, nhưng tôi cố lắng nghe coi bà có dùng phone của tôi gọi Cảnh Sát không, thì ra bà gọi con ra đón, chắc bà đi tour mới về! Nếu bà Tàu kêu Cảnh Sát, tụi tôi phải huỷ bỏ tour vì trễ giờ. Tôi nói với Triết, nếu hai đứa tôi kéo vali của Mỹ đen ở Miami hay New York, bảo đảm Mỹ đen sẽ đập hai đứa không còn cái răng ăn cơm, mà còn ở tù oan!

Rời Las Vegas khoảng 4:00 PM đến St George thì xế chiều, tour ngũ đêm ở St George như chương trình.

Ngày thứ nhì, sáng sớm tour đưa chúng tôi xem Zion, Red Canyon, Bryce Canyon, Bryce Canyon đẹp tôi chưa từng thấy, như cảnh Thiên Đàng. Tour cho 45 phút để xem Bryce Canyon, đứng trên xem chưa đủ thời giờ, vậy mà Đức Cào mê quá, leo xuống đáy Canyon rộng mênh mông, 800 feet sâu, mặc cho mọi người cản ngăn. Chắc là Đức Cào muốn tìm Tiên Nữ trong Thâm Cung!

Tới giờ xe bus chạy, Chị Đức chạy quanh gọi thất thanh xuống đáy Canyon để tìm Đức, chẳng thấy bóng dáng Đức đâu! Chị Đức chạy vào restroom rửa mặt, bước lên xe bus, mặt mày chị hốc hác thểu não như cảnh lạc chồng ngày 29 tháng 4, 1975! Tour guide không chịu chờ nữa vì phải đưa phái đoàn đi ăn trưa cách đó 3 miles. Chị Đức xuống xe bus ở lại chờ chồng, tôi lo sợ Chị sẽ biến thành Hòn Vọng Phu, may quá Đức lên và hai người quá giang xe du khách để nhập với phái đoàn ở chổ ăn trưa. Nếu không có ăn trưa cách đó 3 miles, chắc là Chị Đức xô Đức xuống vực thẳm chôn sống cho hả dạ!

Đêm thứ nhì ngũ lại Salt Lake City, quê hương của Thầy D Nguyễn tái Hiệp và Anh Thành Cóc. Về đến Hotel Red Lion ở Salt Lake City thì hơn 8 giời tối, Anh Chi Hiệp đến hotel đón chúng tôi đưa đến nhà hàng con Anh Thành Cóc, Anh Chi Hiệp nhiệt tình đải chúng tôi rất thịnh soạn. Chúng tôi có gọi Anh Thành nhưng Anh bận dọn nhà không đến được.

Ngày thứ ba, tour rời Salt Lake City đến Yellow Stone xế trưa, ngũ lại Cabin ở Yellow Stone hai đêm. Yellow Stone cao độ trên 7000, 8000 feet, nhiệt độ ngày ấm 70+ F, tối lạnh 34+ F.

Tôi mơ mộng nhiều về Yellow Stone, đến nơi tôi thất vọng, vì ngoài cảnh và cao độ đẹp thiên nhiên, Hot Springs, Geysers and active volcanoes rất tầm thường nếu so với Japan và New Zealand mà tôi đã đi qua, bù lại đi chung với mấy Thầy D vui làm sao, nhất là cảnh đêm tối rủ nhau đi ăn xuyên qua rừng cây lạnh buốt, tối đánh bài trong cabin.

Ngày thứ năm, tour rời Yellow Stone về lại Salt Lake City ngũ đêm, Anh Chị Hiệp có nhã ý mời chúng tôi cơm lần nữa, nhưng kỳ nầy Anh Chị Thành Cóc nhất định mời chúng tôi về nhà hàng thứ hai của con gái. Anh Chị Thành lúc nào cũng vậy, chết sống với bạn bè, Anh và Anh Chị Hiệp đến hotel đón chúng tôi về nhà hàng, Chị Thành thì đến nhà hàng trước, lo sắp xếp bàn ghế, thức ăn. Anh Chị Thành tiếp đón chúng tôi hết sức chu đáo, thịnh soạn và nhiệt tình. Mỗi lần gặp lại Anh Thành, tôi nhớ lại lúc nghèo ở Phi Đoàn 514, biệt phái Saigon, Tết đến Anh Thành dắt nguyên biệt đội khu trục vô chúc Tết Tướng Râu, Ông Râu bảo Bà Mai lì xì mỗi đưa 500, mừng húm! Hình ảnh đẹp đó trong lúc anh em nghèo, tôi không bao giờ quên.


Ngày thứ sáu, tour rời Salt Lake City trở lại Las Vegas vào xế trưa, tour cho phái đoàn ở Circus Circus Casino một đêm.


Ngày thứ bảy, 9 giờ sáng chúng tôi check out Circus Circus, tất cả 7 người về nhà Anh Chị Phát, tour tiếp tục đưa phái đoàn còn lại về Orange County.

Về nhà Anh Chị Phát trưa ngày 24 tháng 6, đến chiều thì Thầy D Hiền Điên và Công Chúa từ Orange County lên nhà Phát nhập bọn. Tụi tôi đánh tennis sáng chiều mệt rả rời.



Năm cặp Phát, Hiền, Triết, Đức, Thái và Chị Năm, đưa $600.00 cho Đức và Triết đi cờ bạc kinh tài, Đức là hạng thợ về vụ nầy, chúng tôi rất tin tưởng. Đi từ trưa đến chiều, gần đến giờ coi show mà không thấy hai lính cảm tử quân trở về, tôi tưởng lính đã bị thương! May quá hai lính đã trở về trong chiến thắng nhỏ, mỗi người được chia $10.00 tiền lời, không thua là hay rồi! Chúng tôi coi show "Le Reve" ở Wynn Casino, Show biểu diễn dưới nước và trên Trời tuyệt đẹp, rất lạ mắt.


Ngày Thứ Sáu 27 tháng 6, Thầy D Anh Lé và Công Chúa lên Las Vegas từ Orange County và ở Casino Hotel, chiều Anh Lé và Công Chúa đến nhà Phát dự tiệc, tối hôm đó Phát có mời Anh Đặng thành Danh (khoá 58) và Anh Nguyên PD112.
Ngày Thứ Bảy 28 tháng 6, Thầy D Triết và tôi theo xe Hiền Điên về nhà Anh Chị Hiền chơi mấy ngày. Ngày Chủ Nhật 29 tháng 6 Anh Lé rời Las Vegas về nhà, tối Thứ Hai 30 tháng 6, Anh Chị Anh đải phái đoàn Mì Quảng ngon số một, hơn tất cả nhà hàng tôi đã ăn.

Ngày July 1, vợ chồng tôi rời Orange County về Palo Alto CA để thăm con và cháu ngoại, OB Triết thì về nhà Bà Toại ở Danville CA ngày July 2. Khi OB Triết đến, Bà Toại mời Anh Chị Xương Xì, vợ chồng tôi, đến ăn bún bò, cám ơn Chị Toại, Chị có tin buồn nhưng vẫn tiếp đón bạn bè.

Nhận xét chung của chuyến đi: Quý Thầy D có sẵn tình ruột thịt từ 1963, nên đi chơi chung dễ thông cảm, vui chơi hết sức thoải mái. Cái vui nhất của tuổi “chuối chín” là Thầy D nào cũng bị Công Chúa than vãn là “quên đầu”, “quên đuôi” mà không bao giờ chịu nhận mình quên! Người say té dập mày, dập mặt mà có bao giờ nhận mình say đâu! Các Công Chúa đừng ngạc nhiên, ngày nào đó Hoàng Tữ D về nhà, Công Chúa ra mỡ cửa, Hoàng Tữ thấy Công Chúa không nhận ra và hỏi “ai trong nhà tôi đây?”. Sợ chưa các Công Chúa? Nếu sợ thì đừng trách móc gì nữa, vì càng trách móc, cảnh đó càng đến sớm! ./.

Chị Bảy